Nguyễn Văn Lục
Mỗi mùa thi tốt nghiệp PTTH hiện tượng phổ biến là lộ đề thi hoặc là những tin đồn về việc lộ đề thi. Phần (I) giới thiệu lịch sử các kỳ thi và kết quả không phải là cao. Xin giới thiệu phần tiếp theo bài biên khảo của tác giả Nguyễn Văn Lục về chế độ khảo thí thi cử trước 1975.
Xem phần I ở đây
Xem phần kết ở đây
Tổ chức chặt chẽ, có phương pháp, có lề nếp là yếu tố quyết định trong thi cử. Cá nhân muốn gian lận cũng khó mà gian được. Chẳng hạn chuyển đổi người địa phương đi nơi khác là yếu tố quan trọng hàng đầu. Phân biệt tổ chức Hội đồng giám thị và Hội đồng giám khảo. Không cho phép bất cứ quan chức địa phương nào, từ Tỉnh trưởng đến người quân cảnh dính dáng xa gần tới Hội đồng giám thị, Hội đồng giám khảo. Hai hội đồng ấy từ trung ương gửi xuống biệt lập với quan chức địa phương. Địa phương chỉ có bổn phận bắt buộc cung cấp phương tiện. Chánh chủ khảo đến làm việc là mọi chuyện phải được sắp xếp sẵn sàng cho họ phương tiện di chuyển như máy bay quân sự, xe cộ; lính canh gác thùng đề thi, an ninh tại các trường thi.
Chẳng hạn để tiết lộ thùng đề thi do trách nhiệm ông Tỉnh trưởng thì việc trước tiên là ông tỉnh trưởng phải đổi đi chỗ khác.
Tổ chức ấy được tiến hành như sau:
Nha Khảo Thí
Nha khảo thí là nơi đầu não làm việc suốt quanh năm nhằm mục đích tổ chức hai kỳ thi Trung học Phổ thông và 4 lần thi Tú tài 1 và Tú tài 2. Cơ quan này chia ra nhiều bộ phận riêng rẽ, biệt lập như tổ chức các Hội đồng Giám thị và Giám khảo, phân phối điều động các giám khảo, giám thị. Vì Sài Gòn là trung tâm nên nơi đây còn chia ra nhiều Hội Đồng như Hội Đồng ban B, ban C và D, Hội Đồng ban A. Các tỉnh thì có các Hội Đồng Giám khảo như Huế, NhaTrang, Cần Thơ, v.v… Hội Đồng Giám Thị thì tổ chức tại các địa phương như các tỉnh Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Hội An, Quảng Trị, v.v... Khi các thí sinh thi xong thì bài thi và hồ sơ của Hội Đồng Giám Thị được chuyển tất cả về Huế.
Bộ phận quan trọng của Nha Khảo Thí là hội đồng ra đề thi. Bộ phận này nằm chót lót trên lầu 3 của Nha Khảo Thí. Người ta gọi đùa là một vương quốc thi cử. Nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Trung bình mỗi môn có hai giáo sư trung học có kinh nghiệm phụ trách. Họ có bổn phận cân nhắc kỹ lưỡng từng câu hỏi giáo khoa, từng bài thi sao cho đúng. Không có kẽ hở có thể để học trò hiểu lầm câu hỏi hay có thể có hai cách trả lời, v.v... Hoặc đề tài cần vừa trình độ học trò, không quá khó. Có nhiều năm, bài toán ra quá khó, nhiều học trò giỏi cũng ngắc ngư. Báo chí phản ứng dư luận rùm beng. Riêng đề thi ban Triết, nhiều vị không dám tự mình đề xướng ra một đề thi mới và thường chọn các đề thi có bài luận giải đáp trong sách Foulquié cho chắc ăn. Vì thế, các giáo sư cũng lấy các đề thi và bài luận trong sách này dạy cho học trò. Không có “học tủ” đâu, vì có đến 4, 5 cuốn Foulquie với hàng trăm bài mẫu.
Sau khi đã quyết định chọn được đề thi rồi, các vị ấy phải tự mình đánh máy, tự mình quay ronéo, tự mình để vào các phong bì rồi niêm phong lại. Phong bì đóng khằn bằng xi. Phòng đề thi được bảo mật, có người canh gác, có hệ thống an toàn riêng để tránh sự đột nhập của người lạ. Tất cả tổ chức khắt khe như vậy chỉ nhằm mục đích bảo đảm an toàn cho việc thi cử được bảo mật tối đa, giữ được công bằng.Tuy nhiên tổ chức bảo mật khắt khe đến đâu đi nữa vẫn có yếu tố con người. Vì thế, vấn đề còn lại vẫn là cá nhân, tư cách người thầy. Điều đó chính là rường cột của một nền giáo dục chân chính.
Các Hội Đồng Thi
Phần này viêt theo trí nhớ, có thể có một hai tiểu tiết thiếu sót, xin được thông cảm.
Để bảo đảm cho các kỳ thi đạt được kết quả mong muốn. Nguyên tắc của bộ (Quốc gia) giáo dục miền Nam là điều động các giám khảo từ địa phương này sang địa phương khác. Giám khảo ở Huế thì vào Nha Trang và ngược lại. Các giám khảo các tỉnh lẻ cũng bị điều động đi nơi khác. Mặc dầu tốn kém và khó khăn di chuyển. Nhiều địa phương mất an ninh, bắt buộc phải dùng phương tiện máy bay và lúc đó phải nhờ bên quân đội đảm trách việc di chuyển các giám khảo. Nguyên tắc di chuyển giám khảo ra khỏi địa phương của họ đã được duy trì từ năm 1955 đến 1975 và đem lại kết quả khá mỹ mãn.
Có các vị giáo sư lão thành cho hay hồi 1955-1956, số thí sinh còn ít, bài thi rọc phách rồi giám khảo được phép mang về nhà chấm. Vậy mà đâu có chuyện gì xảy ra?
Việc coi thi và chấm thi là hai bộ phận riêng biệt.
Các giáo sư trung học phải đảm trách hai nhiệm vụ một lúc: Vừa là giám thị vừa là giám khảo. Từ đó phân chia ra hai hội đồng: Hội đồng giám thị để coi thi, hội đồng giám khảo để chấm thi.
1. Hội Đồng Giám Thị
Công việc của Hội Đồng Giám Thị là tổ chức các kỳ thi viết tại các tỉnh nhỏ như Phan Thiết, Đà Lạt, Lâm Đồng, Vũng Tàu, Di Linh, Quảng Ngãi, Long Xuyên, Rạch Giá, v.v... Nghĩa là học sinh ở đâu thi tại đó. Báo chí trong nước hiện nay cho tin, các học sinh phải thuê nhà trọ để ứng thi chẳng khác gì các sĩ tử thời Nho Học là bao nhiêu. Trên thế giới chắc chỉ có Việt Nam hiện nay làm như vậy.
Ban Chủ tịch Hội Đồng thường có ba người: Một chủ tịch hội đồng, một phó chủ tịch và một thư ký. Các chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch thường do các hiệu trưởng hay các giáo sư có thâm niên trong nghề đảm trách. Tại địa phương, các ông phó tỉnh Trưởng, trưởng ty tiểu học ‒ Không có Hiệu Trưởng, vì hiệu trưởng, cũng được điều động đi nơi khác ‒ giúp sắp xếp lo liệu về hành chánh, điều động an ninh quân đội hay cảnh sát nếu có canh gác thì phải ở ngoài khuôn viên nhà trường. Các ông giám thị, tổng giám thị lo liệu sắp xếp chỗ ngồi theo số báo danh.
Đề thi đã được gửi tới tòa Tỉnh trưởng và Tòa tỉnh trách nhiệm cho người canh gác hòm bài thi, nếu cần. Cho dù có gan trời, các ông ấy cũng không dám đụng đậy vào các bao bì đề bài thi này.
Đến ngày thi, ông chủ tịch hoặc ông phó chủ tịch Hội đồng thi đến tòa tỉnh làm biên bản nhận bao bì bài thi. Tòa tỉnh cho xe quân cảnh hộ tống xe của Hội Đồng thi đến các hội đồng thi giao bài.
Phần thư ký hội đồng có bổn phận sắp xếp các giám thị địa phương là các giáo viên tiểu học kèm theo một giáo sư từ chỗ khác đến. Nghĩa là mỗi phòng thi gồm hai giám thị. Giám thị 1 là giáo sư trung học, giám thị 2 là giáo viên tiểu học. Bên ngoài, mỗi hành lang có thêm một giám thị hành lang là một giáo sư để kiểm soát chung cả hành lang.
Trước giờ thi các giám thị xem bảng sắp xếp đi về phòng thi đã được chỉ định kèm theo một hồ sơ các giấy tờ cần thiết cho mỗi phòng như biên bản. Đúng giờ thi, các giám thị hành lang sẽ mang phong bì đề thi được gián kín giao cho các giám thị mỗi phòng.
Tổ chức rất chặt chẽ, nhiệm vụ được phân chia rõ ràng. Bao nhiêu năm vẫn thế, ít có sự thay đổi. Vai trò các giám thị là giáo viên địa phương có hơi tế nhị như gặp thí sinh quen biết hoăc họ hàng. Nhưng thật sự không có vấn đề, vì còn có giám thị 1 có nhiệm vụ kiểm soát tất cả. Chưa kể còn giám thị hành lang.
Tờ giấy thi phát cho thí sinh làm có chữ ký của hai giám thị. Không có chữ ký của họ là bất hợp lệ. Cho nên tráo bài thi là truyện khó có thể xảy ra.
Hết giờ thi, nhiệm vụ của giám thị là thu bài xếp theo thứ tự vần, đánh số mật mã ở ô vuông trên mỗi bài thi. Phía ngoài ghi số thí sinh có mặt. Số đó là mật mã của sấp bài. Bài sau đó, được buộc chặt đóng thùng, gửi máy bay về Hội Đồng Giám Khảo.
Công việc của Hội Đồng Giám Thị kể là xong. Số phận học sinh nay nằm trong chính những xâp bài mà họ đã làm và nhất là trong tay các vị giám khảo.
2. Hội đồng giám khảo
Đây là công việc quan trọng nhất, quyết định số phận học trò. Công việc chấm thi, cộng điểm, lên danh sách kéo dài cả tháng trời. Rất thận trọng, rà soát lại từng thí sinh một.
Bài thi được rọc phách. Thường ông Phó chủ khảo đánh số mật mã. Mật mã trên phần phách phía trên và mật mã trên phần bài thi. Sau này chấm xong, ráp hai phần đó có số mật mã giống nhau là được.
Mỗi bộ môn có chừng độ 7, 8 giám khảo. Chấm lâu và mất nhiều thì giờ nhất là môn Triết. Có một trưởng ban cho mỗi môn. Mỗi giám khảo chấm bài nhận xấp bài đã ghi mã số bên ngoài bìa như xấp 25 bài, sẽ ghi xấp 25. Trước khi chấm phải họp lập thang điểm để thống nhất việc cho điểm. Bài cho điểm cao, bắt buộc phải đưa cho một giám khảo khác chấm lần thứ hai, sau đó cộng lại cho trung bình. Rất tiếc, đáng nhẽ bài cho điểm thấp quá cũng cần có chấm lại lần thứ hai cho công bằng.
Sau khi các giám khảo chấm xong. Vấn đề còn lại có tính cách hành chánh như là ráp phách, cộng điểm. Ngay việc cộng điểm cũng cần hai người, đọc điểm lên, rồi cộng, rồi so sánh, rà soát lại để tránh cộng sai. Công việc tổ chức khá là chặt chẽ.
Công lao khó nhọc cả năm trời quyết đinh trong mấy tiếng đồng hồ, kéo dài trong mấy ngày. Phù du như ảo ảnh. Đôi mắt tuổi trẻ nay ánh lên nỗi niềm lo âu và tin tưởng. Sự mong đợi và sự hy sinh vô bờ bến của bậc làm cha mẹ. Làm sao nói hết cho ra lời. Họ chỉ mong con cái thi đậu.
Nỗi niềm đó kéo theo tâm sự của cả miền Nam mỗi khi đến mùa thi.
Bầu khí đó nói lên tầm quan trọng của mùa thi. Nhất là cuối thập niên 1960, sau tết Mậu Thân. Tương lai tuổi trẻ như thế nào có thể đổi khác khi những mảnh giấy in ronéo được dán lên. Thi cử và tương lai tuổi trẻ gắn liền vào một. Đó là cái ý nghĩa nhất trong mùa thi cử.
Nhưng cho dù tổ chức thi cử có chặt chẽ thế nào đi nữa, người ta vẫn có thể gian lận. Tôi không chối cãi điều đó. Nhưng điều mà tôi nghĩ rằng, tổ chức thi cử ở miền Nam được tốt đẹp không hẳn ở tổ chức chặt chẽ.
Thi cử chặt chẽ, tốt đẹp và đàng hoàng là do con người của nhà giáo.
Tôi đã nhìn lại một số bậc đàn anh để thấy rằng nơi những người thầy ấy không có chỗ cho điều xấu có chỗ cư ngụ. Nhân cách họ bày tỏ một sự trong sáng không tì vết. Nhìn họ, nhìn con người họ nhìn phong cách họ, không một ai dám mở lời xin xỏ hay hối lộ.
Xin vinh danh họ. Những người đã đào tạo nên những thế hệ học sinh sau này thành người.
Tổ chức thi cử nghiêm chỉnh và nhân cách người giám khảo là hai yếu tố tạo cho các kỳ thi ở miền Nam trước 1975 đã đạt được sự công bằng cho mọi thí sinh.
Mặc dầu sống thanh bạch, các thầy giáo miền Nam, trung và tiểu học, nhất là tiểu học có quyền ngửng đầu để thấy rằng thi cử cũng như giáo dục là điều còn lại duy nhất giúp cho người miền Nam thấy hơn miền Bắc.
Miền Nam có thể thua miền Bắc do để mất miền Nam. Nhưng nền giáo dục ở miền Nam dù còn chập chững thiếu sót mà thực tế ngày nay cho thấy vượt trội rất xa miền Bắc cộng sản cả về chất lượng đào tạo và phẩm chất đạo đức.
Vậy mà họ dám viết phê phán nền giáo dục của VNCH như sau:
“Mỹ và chính quyền Sài Gòn cố gắng kết hợp mọi Triết học cũ xưa với Triết học mới nhất nhồi nhét những thế hệ thanh thiếu niên “lý tưởng quốc gia” giả hiệu, “thế giới tự do”, làm cho họ chạy theo lối sống thực dụng, hoặc sợ hãi sức mạnh nước ngoài, rồi bi quan, yếm thế, an phận.”
(Trích Địa chí văn hóa... trang 768).
Tất cả những ai đã đỗ đạt ở miền Nam vì thế đều có quyền tự hào là mình đã xứng đáng đỗ như thế. Và chỉ cần nhìn những người Việt Nam ở hải ngoại đã có thể học lại, có thể đỗ đạt ở nước ngoài không thua bất cứ di dân nào. Và tất cả chúng ta đều có quyền hãnh diện với chính mình và hãnh diện vì đã được đào tạo trong một môi trường giáo dục lành mạnh, nhân bản và đạo đức ở miền Nam Việt Nam.
Cụ thể là có khoảng 2800 dược sĩ hiện nay đang hành nghề tại hải ngoại. (Trích Danh sách dược sĩ Việt Nam trên thế giới Tự Do, xuất bản năm 1997).
Và có khoảng 2600 bác sĩ đủ loại cũng đang hành nghề khắp nơi trên thế giới. (Trích Danh sách Y sĩ Việt Nam trên thế giới Tự Do, 1997).
Còn lại biết bao nhiêu kỹ sư, giáo sư, Quốc Gia Hành Chánh cũng đã tạo được chỗ đứng cho họ ở xứ người.
Từ Hiệp đinh Geneva 1954, người dân miền Nam Việt Nam lo ổn định cuộc sống, trẻ em nô nức đến trường, phụ huynh ước mong con em học hành thành đạt để thoát khỏi cảnh nghèo dốt. Có sự bùng nổ của ngành Quốc gia Giáo dục, với phương tiện eo hẹp, chính quyền VNCH đã cố gắng đáp ứng nhu cầu học tập của giới trẻ. Buổi đầu ưu tiên tiểu học và trung học. Về sau bậc trung học tác động mạnh lên đại học.
Ngoài số thanh niên tốt nghiệp trung học mặc chiến y, một số khác được hoãn dịch vì lý do học vấn tiếp tục học lên đại học.
Một miền đất nước với gần 20 triệu dân trong hoàn cảnh chiến tranh triền miên dữ dội mà xây dựng được một hệ thống giáo dục như thế, đào tạo được một đội ngũ trí thức tài giỏi là một điểm son của chính thể VNCH.
(Còn tiếp)
Wednesday, June 22, 2011
Sunday, June 19, 2011
Nhìn lại việc thi tú tài ở Việt Nam trước 1975 (I)
Nguyễn Văn Lục
Mùa thi tốt nghiệp PTTH những năm gần đây tỷ lệ học sinh tốt nghiệp được đặt ra như là chất lượng của nền giáo dục hơn là thành quả của học trò. Xin giới thiệu bài biên khảo của tác giả Nguyễn Văn Lục về chế độ thi cử trước 1975.
Xem tiếp phần II ở đây
Xem tiếp phần kết ở đây
Việc thi cử ở nước ta đã có một truyền thống lâu đời truyền lại. Miền Nam sau này việc thi cử phần nào cũng tiếp nối cái tinh thần của truyền thống ấy.Thật vậy, nước ta đã có gần 20 thế kỷ dùng chữ Hán kể từ thời Bắc thuộc. Và 10 thế kỷ chữ Nôm đánh dấu thời kỳ tự chủ.
Việc thi cử tính ra cũng được ngàn năm.
Cái truyền thống ấy được Nguyễn Hiến Lê viết lại như sau:
“Ở nước ta hiện nay, số hậu duệ của giai cấp ấy kể ra cũng còn được kha khá, nhưng số người còn giữ được nếp nhà thì hiếm đấy; và tôi nghiệm thấy người nào giữ được cũng có vài nét chung rất dễ nhận ra: không ham danh lợi, chăm nom sự dạy dỗ con cái, yêu nước, thích văn chương, chuộng nghề dạy học và hình như có khiếu dạy học nữa.”
(Trích Mười câu chuyện văn chương, Nguyễn Hiến Lê, trang 82).
Phải chăng truyền thống đó sản sinh ra những người thầy như giáo sư Hoàng Cơ Nghị, Trần Trọng Kim, Dương Quảng Hàm hay như thi sĩ Đông Hồ mà lúc chết học trò khắc trên bia hai câu thơ như sau:
Cũng Nguyễn Hiến Lê viết về thầy Dương Quảng Hàm trong cuốn Hồi ký của ông:
“Tất cả học sinh trường Bưởi không ai không trọng thầy vì vậy. Mà các bạn đồng sự Pháp, Việt cũng quỳ thầy nữa. Thật đáng tiếc, thầy không thọ, mất trong những ngày đầu cuộc kháng chiến ở Hà Nội.”
(Trích Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, trang 65).
Giáo dục miền Nam đã tiếp nối cái truyền thống kính trọng ông thầy ấy. Ở miền Bắc thì họ mang thầy ra tố khổ như trong bài viết của Trần Huy Liệu: “Bóc trần quan điểm thực dân và phong kiến trong quyển “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim” (Tập san sử địa, số 6, 1955).
May là cụ Dương Quảng Hàm đã chết sớm.
Và họ bắt học trò phải “Quyết tâm thực hiện lời dạy của Hồ Chủ tịch và Thủ tướng Phạm Văn Đồng” (Tập san sử địa, số 4, tháng 11, 12-1955, Hà Nội).
Trước đó, khoa cử còn thiếu, các đời Đinh, Lê về trước chưa có thi cử. Việc tuyển chọn người chỉ là tùy tiện, không câu nệ, nhưng lại cũng không có phép tắc gì.
Kể từ năm 1072, đời Lý mới mở khoa thi chọn người tài ra giúp nước.
“Con đường tìm người tài giỏi, trước hết là khoa mục, phàm muốn thu hút người tài năng, thì người làm vua một nước không thể nào không có thi cử”
(Trích Lịch Triều Hiến Chương loại chí (LTHCLT) của Phan Huy Chú, phần mở đầu chương Khoa Mục Chí).
Cái mục đích mở khoa thi đã rõ ràng: Chọn người có tài. Nhưng chọn bao nhiêu? Chọn thế nào?
Đó là cả một vấn đề. Việc thi cử thời xưa còn nhiều điều bât cập như: Cái học từ chương quá, tỉ lệ thi đỗ quá thấp. 1000 người lấy một. Có sĩ tử đã để cả đời đi thi mới đỗ. Ông Đoàn Tử Quang tham dự cả thảy 21 khóa thi từ năm 20 tuổi. Cứ ba năm thi một lần, mãi đến năm 83 tuổi mới thi đỗ. Ông nội Ngô Tất Tố 7 lần đi thi, bố Ngô Tất Tố sáu lần, phần ông Tố hai lần đi thi.
Mặc dầu thi cử khó khăn, nhưng tổ chức thi cử rất nghiêm ngặt. Luật lệ nghiêm minh như ông Đỗ Nhuận (không phải nhạc sĩ Đỗ Nhuận) viết vào năm 1484:
“Việc lớn trong chính trị của Đế Vương, chẳng gì gấp bằng nhân tài… Khoa cử các đời thịnh nhất là đời Hồng Đức, cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng, đời sau không thể theo kịp.”
(LTHCLC, phần Khoa Mục Chí).
Chỉ cần giữ lại mấy chữ: Lấy rộng rãi, cách chọn người công bằng. Đời sau không sánh kịp.
Nếu nhìn lại việc thi cử ở miền Nam, tôi chỉ thấy việc thứ nhất còn chưa ổn, việc thứ hai có lẽ cũng không thua gi việc thi cử đời Hồng Đức cả. Trừ giai đoạn chót của VNCH, việc thi cử xem ra có một số trường hợp bê bối. Đã có dư luận đồn thổi về tình trạng con ông cháu cha, kẻ có tiền của.
Sau này đến đời vua chúa triều Nguyễn, phép tắc thi cử cũng vẫn nghiêm ngặt như vậy. Nhà vua xem xét từng li từng tí việc học của các sinh viên trong trường Quốc Tử Giám.Ta hãy nghe lời phê phán vừa nặng nề vừa cho thấy mối quan tâm của vua Minh Mạng đối với tương lai giáo dục ra sao. Năm 1837, vua ra chỉ dụ:
“Thế mà nhìn lại các học quan chỉ biết chiếu lệ thường khảo hạch cho có, gọi là đã làm xong chức vụ, còn quy trình giảng dạy thi lên lớp, tiến bộ ra sao, trình độ học sinh như thế nào, không lưu ý tới, thì bảo sĩ tử gắng sức ở chỗ nào.”
(Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ - Bộ Lễ - Q.192: Học Hiệu).
Thât ra miền Nam có khá nhiều kỳ thi: Thi tiểu học, thi nhập học lớp đệ thất các trường công lập, thi Trung Học Phổ thông dành cho các lớp đệ tứ và thi tú tài 1 và 2. Ở đây chưa kể việc thi trên Đại Học, thi tuyển vào trương chuyên nghiệp như Quốc Gia Hành Chánh, Đại Học sư phạm, các trường Kỹ sư (Phú Thọ) Điện, Công chánh, v.v...
Việc thi cử phần đông tiến hành tốt đẹp.
Nếu tuyển sinh đệ thất không minh bạch thì kết quả thi đỗ tú tài ở trường công tỉ lệ thi đỗ đã khác.
Có nhiều lớp, toàn thể học sinh đều thi đỗ. Đặc biệt một lớp ban B, trường Petrus Trương Vĩnh Ký, vào năm 1970, toàn thể học sinh đều thi đỗ hạng Bình trở lên. Dĩ nhiên, cũng có trường hợp nhà trường dồn học sinh giỏi vào cùng một lớp. Sau này, lớp học này có nhiều học sinh xuất sắc được học bổng, đi du học và thành tài. Và một trong những học sinh ưu tú ấy, hai lần đỗ tú tài 1 và 2 hạng ưu, điểm trung bình toàn bộ các môn phải từ 16 trở lên và hiện nay ngoài công việc chỉ huy ở sở, anh đang giữ trọng trách với một tổ chức phi lợi nhuận.
Việc học còn từ chương
Việc này, Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) ngay từ năm 1867 đã phê phán thẳng thừng và dứt khoát, ông viết:
“Nhìn lại sử học của ta ngày nay, 1867, những điều thầy dạy, những điều trò học, toàn là những chuyện xa xưa. Lúc nhỏ thì học văn từ, thơ phú, lớn lên ra làm việc thì lại thấy luật-lịch-binh-hình… Xưa nay, trên thế giới chưa từng nước nào có nền học thuật như vậy... Nếu đem cái công phu cả đời đem tâm trí ra trau chuốt chữ nghĩa mà học những việc hiện tại như trận đồ, binh pháp, đắp thành giữ nước, sử dụng súng ống thì có thể chống được giăc...”
(Trích Nguyễn Trường Tộ - Con Người và Di Thảo, Trương Bá Cần, trang 76, NXB Tp. HCM, 1988).
Rất tiếc những lời cảnh báo về cái học từ chương, “toàn những chuyện xa xưa” không được vua quan để ý tới và kéo dài cho mãi đến bây giờ.
Mặc dầu việc phê phán của Nguyễn Trường Tộ nhằm vào thời kỳ còn nặng nho học, nhưng cái tinh thần ấy vẫn còn rơi rớt lại sau này. Chẳng hạn trong chương trình tiểu học của miền Nam sau này. Học trò tiểu học phải học thuộc lòng các bài địa lý, lịch sử, cách trí. Học thuộc lòng ra rả như cuốc kêu. Kể thật cùng tội. Các lớp trung học, nhất là ban Vạn vật thì Vạn vật cũng là môn học thuộc lòng, môn học đào luyện trí nhớ tốn bao thì giờ công sức mà xét ra ít hữu dụng. Các môn sử ký, địa lý trong cách giảng dạy, trong cách chấm điểm còn nặng tính từ chương, thiếu óc phê bình, thiếu nghị luận. Ngay các bài giảng văn cũng được diễn giải một chiều, ước lệ, có bài bản sẵn, ít đi ra ngoài thông lệ, ít sáng tạo, thiếu cách đặt lại vấn đề, thiếu phản biện.
Nói chung là còn vướng mắc nhiều tinh thần lệ thuộc. Lệ thuộc người xưa, lệ thuộc sách vở và ngay cả lệ thuộc vào ông thầy.
Các lớp dạy luyện thi cho thấy học trò lệ thuộc vào ông thầy như thế nào.
Và đây là một lời dạy khuôn vàng thước ngọc:
“Các người lại không bắt chước người đời xưa sao, hay là chỉ lấy tiếng ư? Học trò tranh nhau mài gọt, gây dựng nhân tài, để làm việc nước, có vậy mới không phụ ý trong việc học, hậu đãi người hiền, mọi người đều phải kính cẩn tuân theo.”
(Trích Đại Nam Thực Lục chánh biên).
Đại NamThực Lục chánh biên là sách ghi chép sử triều Nguyễn từ Gia Long đến Đồng Khánh, chia làm nhiều kỳ, mỗi kỳ là một đời vua. Có tất cả 6 kỳ.
Cái học lệ thuộc thầy, lệ thuộc “cours” còn tồn tại ngay ở các đại học. Sinh viên thi đỗ chỉ cần thuộc cours của giáo sư giảng trong lớp.
Thi cử lấy đỗ khá khắt khe.
Tiêu biểu cho sự khắt khe này là hình ảnh Vân Hạc trong Lều Chõng của Ngô Tất Tố, một sĩ phu tài tuấn, có lương tri, có tài học mà lận đận với thi cử. Nó là bản cáo trạng đối với tổ chức lề lối học hành và thi cử thời xưa, lãng phí nhân tài và chất xám của đất nước.
Người viết đã truy tìm một số kết quả các kỳ thi Trung Học Phổ Thông và tú tài sau 1954 để cho thấy việc thi cử là khắt khe quá. Nhưng kết quả tìm tòi còn chưa được như ý muốn.
Năm 1950, đại học văn khoa Sài Gòn, ở đường Garcerie nay là Phạm Ngọc Thạch mới có 50 sinh viên theo học và 50 dự thính viên. Trường Khoa Học mới có 14 sinh viên đậu chứng chỉ P.C.B, 2 sinh viên đậu S.P.C.N, 3 sinh viên đậu toán đại cương, 2 sinh viên đậu vật lý đại cương. Năm 1954-1955 có 13 bác sĩ, 11 dược sĩ, cử nhân luật 159 và rất tiến bộ đã có 135 người đậu chứng chỉ khoa học.
(Trích Địa chí Văn hóa TPHCM, trang 743-745)
Một học sinh giỏi nhất lớp ở ngoài Bắc vào năm 1948, vậy mà trong học bạ của anh, không phải điểm số nào anh cũng đạt trung bình (tác giả viết nhầm, không có điểm số nào anh đạt trung bình). Xem và đọc để thấy nó vô lý như thế nào!!!
Giỏi nhất lớp, thông minh mà điểm chưa đạt trung bình? Và đây là nhận xét của giáo sư Dương Thiệu Tống, người đã còn giữ học bạ này của học trò gửi cho làm kỷ niệm. (gs Dương Thiệu Tống, trường Trung Học kiểu Mẫu, Thủ Đức)
Ông nhận xét như sau:
“Điểm nhận xét đầu tiên của tôi là điểm số các môn học ngày xưa sao lại thấp đến thế, ngay cả đối với học sinh đứng nhất lớp như các thí dụ trên đây.
(Trích “Suy Nghĩ về giáo dục truyền thống và hiện đại”, Dương Thiệu Tống, nxb Trẻ, trang 279-281)
Nhưng câu nhận xét sau đây của giáo sư Dương Thiệu Tống thật hơi lạ.
“Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung thực hơn? Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm giải đáp.”
(Trích như trên)
Giáo sư đã cho phép dành cho đồng nghiệp tìm ra giải đáp thì tôi xin được thưa với giáo sư như thế này. Giáo sư là thầy của nhiều thế hệ mà bản thân người viết bài này có thể chỉ là hàng con cháu. Giáo sư đã đi du học Hoa Kỳ mang về cái bằng Tiến sĩ giáo dục mà vấn đề cho điểm như trên, giáo sư lại thối thác không cho một giải đáp.
Thưa giáo sư, trồng cây thì phải có quả. Trồng tốt sẽ cho quả tốt. Trồng người cũng gần như vậy. Dạy học thì trò đi thi phải đỗ. Không đỗ thì phần trách nhiệm không nhỏ là do thầy, do chương trình, do xã hội. Điểm phi lý đến nực cười là cho điểm thì đều dưới trung bình mà lại đứng đầu lớp. Không lẽ học trò đều dốt cả? Cho dù thế nào đi nữa thì không có lý nào điểm thì kém, dưới trung bình trong khi lời phê của giáo sư thì nào là giỏi, thông minh, đáng khen. Như vậy thì nên căn cứ vào điểm hay vào lời phê? Lời phê như thế có phản ảnh đúng trình độ học sinh hay không? Giải pháp là xét lại thang điểm và thay đổi thái độ chấm bài, nhất là bài văn, cần kèm thêm các câu hỏi giáo khoa hay trắc nghiệm như sau này Bộ (Quốc gia) Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã đem ra áp dụng.
Thực ra khó khăn do thi cử và giáo dục thì ở đâu cũng có. Mỗi thời mỗi khó khăn khác. Như tỉnh Québec mà tôi đang ở. Mỗi năm dành 13 tỉ đô la dành cho giáo dục, vậy mà nhiều học trò trung học, ngay cả đại học còn viết đầy lỗi chính tả. Ngay ông Thủ tướng trong bài diễn văn đọc về cải cách giáo dục, người ta tìm ra được 13 lỗi phạm lớn:
“N’est–ce pas le premier ministre Jean Charest, qui dans un discours à l’Assemblée nationale, affirmait vouloir poursuivre ses efforts” pour améliorer la qualité de notre langue commune, le francais” alors qu’il remettait aux journalistes un texte comptant une douzaien de fautes majeures...” (Trích “Le grand mensonge de l’éducation”, Luc Germain, Luc Papineau, Benoit Séguin, trang12).
Phải chăng ngay cả ông Thủ tướng Charest trong một bài diễn văn đọc trước Quốc Hội khẳng định trong nỗ lực tiếp tục “Cải tiến phẩm chất tiếng nói chung của chúng ta là tiếng Pháp,” vậy mà, chính ông Thủ tướng đã phát cho các nhà báo một bản diễn văn trong đó tính ra có đến 13 lỗi phạm lớn.
Kinh nghiệm đi chấm thi tú tài 2 các bài Triết hay luận Pháp Văn, Anh Văn cho thấy hệ số bản thân người chấm, hệ số tin cậy và sai số do hai giám khảo chấm, cách nhau trung bình hai điểm, có khi là 4 điểm. Thường trước khi bắt đầu chấm, giám khảo ngồi thảo luận “thang điểm”. Phần này thì cho bao nhiêu điểm, phần kia bao nhiêu điểm. Sau đó cộng lại các điểm đã cho. Sự sai biệt giữa hai giám khảo chấm cũng một bài là từ hai đến ba điểm, có khi 5 điểm cho thấy việc chấm thi thiếu công bằng, thiếu khách quan. Giả dụ bài Triết ban C, hệ số 4. Cách nhau 3 điểm, nhân 4 trở thành cách nhau 12 điểm. Quá bất công cho học trò, vì nhiều khi chỉ cần một điểm là đủ đỗ?
Kinh nghiệm bản thân khi tôi thi tú tài 2 ban C, chọn Pháp Văn làm sinh ngữ một. Bài thi bắt buộc là một bài luận văn chương Pháp chọn trong các tác giả thế kỷ 19 như Victor Hugo, Alfred de Vigny, Lamartine, Chateaubriand, v.v... Sinh ngữ 2 là anh văn thì gồm có một bài luận luân lý. Cả năm đã học theo chương trình như thế. Nhưng nghe tin đồn là năm nay, giáo sư Nguyễn Văn Lúa, giáo sư Pháp Văn đại học Văn Khoa xuống chấm thi. Không ai bảo ai, một số học sinh sợ ăn điểm một hai gậy của giáo sư Lúa bèn trốn ông, chọn Anh Văn làm sinh ngữ một.
Tên sao trùng với người thế. Gặp ông là lúa đời rồi. Ông nổi tiếng hung thần đánh rớt học trò. Vậy mà được đồng nghiệp kính nể. Anh Văn vốn tôi đã chẳng giỏi gì, phần lớn thời gian tự học lấy trong “Butterfly”. Giọng đọc anh văn thì thầy còn đọc trật huống chi trò. Sang Mỹ này vừa chẵn 30 năm mà nói Mỹ vẫn chưa hiểu!!! Sau bài luận văn chương ép uổng đó, từ đó đến nay, tôi không hề dám viết một câu tiếng Anh nào nữa, mặc dầu việc biên khảo hiện nay, phần lớn, tôi đều dựa trên sách viết bằng tiếng Anh.
Nói theo kiểu giáo sư Dương Thiệu Tống, nói Mỹ nó không hiểu thì nó dốt hay mình dốt? Giáo sư Dương Thiệu Tống còn viết bài: Trẻ Chưa Ngoan, Nguyên nhân? Tôi thấy ông thật thà quá. Nguyên nhân chính là cộng sản mà ông cứ nói đâu đâu?
Ông Cụ Vương Hồng Sển trong cuốn Hơn nửa đời hư có kể đi dự thi concours để làm việc cho Pháp, thi mãi không đậu. Ông viết:
“Kỳ nầy, chua cay là rớt số Một, khít nút với người đội sổ. Gặp thầy bói tên Trần Thúc Sanh, coi tay và coi tướng, nói mình về già tốt phúc, năm nay không đậu vì tiểu nhơn ám hại, muốn đậu phải liều như đánh bài thua. Nhưng mình vẫn nhất quyết “Không liều như đánh bài,” chỉ còn tự trách còn óc mê tín, tin dị đoan và vẫn đi xem bói.” Cuối cùng ông kết luận: “Cám ơn đã được thi rớt.”
(Trích Hơn Nửa Đời Hư, Vương Hồng Sển, trang 226-228).
Nói chuyện với mấy vị giáo chức lớn tuổi, họ thường ân hận là trong đời đi dạy, họ đã chấm điểm ngặt nghèo qua. Vì mình mà có đứa phải đi lính, có đứa biết đâu vì thế chết ngoài mặt trận.
Sau đây là kết quả các kỳ thi tú tài 1 và tú tài 2 vào niên khóa 1954-1955 cho thấy kết quả thí sinh thi đỗ là bao nhiêu của hai chương trình Việt và Pháp lúc bấy giờ.
Bảng 1: Kết quả kỳ thi tú tài I và 2,
chương trình giáo dục Việt Nam 1953-1954, Sài Gòn-Nam Bộ
Nguồn: Việt Nam niên giám thống kê, trang 126-130
Bảng 2: Kết quả kỳ thi tú tài 1 và 2 chương trình Pháp 1954-1955
Nguồn: Việt Nam niên giám thống kê, trang 126-130
Một vài nhận xét
Tú tài Việt
Đây là năm cuối cùng của việc thi cử trong hệ thống giáo dục của Pháp.
■ Nên nhớ rằng, chính phủ quốc gia chỉ mới công bố chương trình thi lấy bằng Trung Học Phổ thông đệ nhất cấp kể từ 1950. Khóa 1, tháng sáu/1950, khóa 2 vào tháng 9/1950.
■ Vì thế không lạ gì số học sinh trường Việt dự thi ít hơn trường Pháp đến gần một nửa. Điều đó cho thấy việc học chỉ dành cho những người có tiền của, loại con ông cháu cha khác hẳn kỳ thi năm 1955-1956. Trường Petrus Ký, Gia Long mới chỉ bắt đầu mở các lớp đệ thất dạy chương trình Việt, nhưng vẫn duy trì một số lớp chương trình Pháp.
■ Tỉ lệ tú tài 1: thí sinh thi đỗ tú tài 1, Việt Nam, kỳ 1 là 25% cộng cả hai kỳ là 35%. Thấp.
■ Tỉ lệ thí sinh bỏ dự thi tú tài 1, kỳ 2, rất cao. Điều đó cho thấy, người giỏi thì đỗ ngay kỳ đầu, người không học, sau khi thi thử kỳ đầu, không đậu đã bỏ luôn, không dự kỳ khóa hai. Đáng nhẽ phải có hơn 800 dự thi khóa hai, chỉ còn hơn 500 dự thi khóa hai. Đã có khoảng 300 người bỏ cuộc. Cho dù thi lại, tỉ lệ thi đậu chỉ hơn 10% so với kỳ đầu là 25%.
■ Tỉ lệ tú tài 2: Những người thi tú tài 2 đều giỏi vì đã được sàng lọc trong kỳ thi tú tài 1. Vì thế tỉ lệ thi đỗ rất cao so với tú tài 1. 70%. Số lượng những người tham dự kỳ thi tú tài 2, khóa hai cũng rất cao, chỉ vắng mặt vài chục người, vì họ tin rằng họ có thể thi đậu nên không bỏ cuộc.
■ Tỉ lệ thi Trung học đệ nhất cấp đậu cao, đến hơn 50%.
■ Những con số thi cử này sẽ thay đổi nhiều trong các năm tới khi có số đông học sinh di cư vào Nam cũng như các trường trung học mở ra khắp nơi.
Tú tài Pháp
■ Nhận xét thứ nhất là thi tú tài Pháp gay go và khó đỗ hơn tú tài Việt. Vì họ chỉ thi có một kỳ, không có kỳ 2. Tỉ lệ thí sinh thi đậu chỉ đạt 20- 25%. Vì thế sau này không lạ gì, nhiều học sinh đổi sang trường Việt học thi cả hai kỳ thi Việt Pháp. Tại trường Cao Bá Nhạ, gần đường Cống Quỳnh, Trần Hưng Đạo, có một trung tâm luyện thi dành cho học sinh chương trình Pháp thi tú tài Việt. Ai là người đã học trong hai lớp này?
■ So sánh hai bảng thì kết quả thi cử Việt Nam cho đỗ nhiều hơn thí sinh người Pháp. Phải chăng học sinh Việt Nam học giỏi hơn người Phảp, chăm hơn người Pháp? Tôi nghiêng về lý do giám khảo Việt Nam chấm rộng hơn giám khảo Pháp.
Và đó phải coi là một ưu điểm, tiến bộ về phía giám khảo Việt Nam.
Thi cử qua các kỳ thi tú tài 1 và 2 ở miền Nam là công bằng vì tổ chức chặt chẽ và vì lương tâm nhà giáo.
Xem tiếp phần II ở đây
(Còn tiếp)
Mùa thi tốt nghiệp PTTH những năm gần đây tỷ lệ học sinh tốt nghiệp được đặt ra như là chất lượng của nền giáo dục hơn là thành quả của học trò. Xin giới thiệu bài biên khảo của tác giả Nguyễn Văn Lục về chế độ thi cử trước 1975.
Xem tiếp phần II ở đây
Xem tiếp phần kết ở đây
Việc thi cử ở nước ta đã có một truyền thống lâu đời truyền lại. Miền Nam sau này việc thi cử phần nào cũng tiếp nối cái tinh thần của truyền thống ấy.Thật vậy, nước ta đã có gần 20 thế kỷ dùng chữ Hán kể từ thời Bắc thuộc. Và 10 thế kỷ chữ Nôm đánh dấu thời kỳ tự chủ.
Việc thi cử tính ra cũng được ngàn năm.
Cái truyền thống ấy được Nguyễn Hiến Lê viết lại như sau:
“Ở nước ta hiện nay, số hậu duệ của giai cấp ấy kể ra cũng còn được kha khá, nhưng số người còn giữ được nếp nhà thì hiếm đấy; và tôi nghiệm thấy người nào giữ được cũng có vài nét chung rất dễ nhận ra: không ham danh lợi, chăm nom sự dạy dỗ con cái, yêu nước, thích văn chương, chuộng nghề dạy học và hình như có khiếu dạy học nữa.”
(Trích Mười câu chuyện văn chương, Nguyễn Hiến Lê, trang 82).
thí sinh phải tự làm lều và đặt chõng để viết bài
Nguồn: nguyentl.free.fr
Phải chăng truyền thống đó sản sinh ra những người thầy như giáo sư Hoàng Cơ Nghị, Trần Trọng Kim, Dương Quảng Hàm hay như thi sĩ Đông Hồ mà lúc chết học trò khắc trên bia hai câu thơ như sau:
Ân sâu nghĩa nặng tình dài Khóc thầy, khóc mãi, biết đời nào nguôi?
Cũng Nguyễn Hiến Lê viết về thầy Dương Quảng Hàm trong cuốn Hồi ký của ông:
“Tất cả học sinh trường Bưởi không ai không trọng thầy vì vậy. Mà các bạn đồng sự Pháp, Việt cũng quỳ thầy nữa. Thật đáng tiếc, thầy không thọ, mất trong những ngày đầu cuộc kháng chiến ở Hà Nội.”
(Trích Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, trang 65).
Giáo dục miền Nam đã tiếp nối cái truyền thống kính trọng ông thầy ấy. Ở miền Bắc thì họ mang thầy ra tố khổ như trong bài viết của Trần Huy Liệu: “Bóc trần quan điểm thực dân và phong kiến trong quyển “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim” (Tập san sử địa, số 6, 1955).
May là cụ Dương Quảng Hàm đã chết sớm.
Và họ bắt học trò phải “Quyết tâm thực hiện lời dạy của Hồ Chủ tịch và Thủ tướng Phạm Văn Đồng” (Tập san sử địa, số 4, tháng 11, 12-1955, Hà Nội).
Trước đó, khoa cử còn thiếu, các đời Đinh, Lê về trước chưa có thi cử. Việc tuyển chọn người chỉ là tùy tiện, không câu nệ, nhưng lại cũng không có phép tắc gì.
Kể từ năm 1072, đời Lý mới mở khoa thi chọn người tài ra giúp nước.
“Con đường tìm người tài giỏi, trước hết là khoa mục, phàm muốn thu hút người tài năng, thì người làm vua một nước không thể nào không có thi cử”
(Trích Lịch Triều Hiến Chương loại chí (LTHCLT) của Phan Huy Chú, phần mở đầu chương Khoa Mục Chí).
Cái mục đích mở khoa thi đã rõ ràng: Chọn người có tài. Nhưng chọn bao nhiêu? Chọn thế nào?
Đó là cả một vấn đề. Việc thi cử thời xưa còn nhiều điều bât cập như: Cái học từ chương quá, tỉ lệ thi đỗ quá thấp. 1000 người lấy một. Có sĩ tử đã để cả đời đi thi mới đỗ. Ông Đoàn Tử Quang tham dự cả thảy 21 khóa thi từ năm 20 tuổi. Cứ ba năm thi một lần, mãi đến năm 83 tuổi mới thi đỗ. Ông nội Ngô Tất Tố 7 lần đi thi, bố Ngô Tất Tố sáu lần, phần ông Tố hai lần đi thi.
Mặc dầu thi cử khó khăn, nhưng tổ chức thi cử rất nghiêm ngặt. Luật lệ nghiêm minh như ông Đỗ Nhuận (không phải nhạc sĩ Đỗ Nhuận) viết vào năm 1484:
“Việc lớn trong chính trị của Đế Vương, chẳng gì gấp bằng nhân tài… Khoa cử các đời thịnh nhất là đời Hồng Đức, cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng, đời sau không thể theo kịp.”
(LTHCLC, phần Khoa Mục Chí).
Chỉ cần giữ lại mấy chữ: Lấy rộng rãi, cách chọn người công bằng. Đời sau không sánh kịp.
Nếu nhìn lại việc thi cử ở miền Nam, tôi chỉ thấy việc thứ nhất còn chưa ổn, việc thứ hai có lẽ cũng không thua gi việc thi cử đời Hồng Đức cả. Trừ giai đoạn chót của VNCH, việc thi cử xem ra có một số trường hợp bê bối. Đã có dư luận đồn thổi về tình trạng con ông cháu cha, kẻ có tiền của.
Sau này đến đời vua chúa triều Nguyễn, phép tắc thi cử cũng vẫn nghiêm ngặt như vậy. Nhà vua xem xét từng li từng tí việc học của các sinh viên trong trường Quốc Tử Giám.Ta hãy nghe lời phê phán vừa nặng nề vừa cho thấy mối quan tâm của vua Minh Mạng đối với tương lai giáo dục ra sao. Năm 1837, vua ra chỉ dụ:
“Thế mà nhìn lại các học quan chỉ biết chiếu lệ thường khảo hạch cho có, gọi là đã làm xong chức vụ, còn quy trình giảng dạy thi lên lớp, tiến bộ ra sao, trình độ học sinh như thế nào, không lưu ý tới, thì bảo sĩ tử gắng sức ở chỗ nào.”
(Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ - Bộ Lễ - Q.192: Học Hiệu).
Thât ra miền Nam có khá nhiều kỳ thi: Thi tiểu học, thi nhập học lớp đệ thất các trường công lập, thi Trung Học Phổ thông dành cho các lớp đệ tứ và thi tú tài 1 và 2. Ở đây chưa kể việc thi trên Đại Học, thi tuyển vào trương chuyên nghiệp như Quốc Gia Hành Chánh, Đại Học sư phạm, các trường Kỹ sư (Phú Thọ) Điện, Công chánh, v.v...
Việc thi cử phần đông tiến hành tốt đẹp.
Nguồn: DCVOnline
Tôi chỉ đưa ra một tỉ dụ. Việc thi vào đệ thất các trường công lập khó mà tránh khỏi một số trường hợp quen biết gửi gắm. Nhất là tại các tỉnh. Cho dù có gửi gắm cũng không phải là ăn tiền hay hối lộ. Có thể chỉ vài trường hợp cá biệt, đơn lẻ. Vì thế vẫn bảo đảm được chất lượng thi cử. Bằng chứng rõ ràng tỉ lệ các học sinh trường công thi đỗ thường cao hơn trường tư nhiều vì có sàng lọc rồi. Nếu trường tư thi đỗ đạt tỉ Lệ 20% thì trường công, tỉ lệ thí sinh thi đậu tú tài là 75% đến 85% hoặc hơn thế nữa.Nếu tuyển sinh đệ thất không minh bạch thì kết quả thi đỗ tú tài ở trường công tỉ lệ thi đỗ đã khác.
Có nhiều lớp, toàn thể học sinh đều thi đỗ. Đặc biệt một lớp ban B, trường Petrus Trương Vĩnh Ký, vào năm 1970, toàn thể học sinh đều thi đỗ hạng Bình trở lên. Dĩ nhiên, cũng có trường hợp nhà trường dồn học sinh giỏi vào cùng một lớp. Sau này, lớp học này có nhiều học sinh xuất sắc được học bổng, đi du học và thành tài. Và một trong những học sinh ưu tú ấy, hai lần đỗ tú tài 1 và 2 hạng ưu, điểm trung bình toàn bộ các môn phải từ 16 trở lên và hiện nay ngoài công việc chỉ huy ở sở, anh đang giữ trọng trách với một tổ chức phi lợi nhuận.
Việc học còn từ chương
Việc này, Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) ngay từ năm 1867 đã phê phán thẳng thừng và dứt khoát, ông viết:
“Nhìn lại sử học của ta ngày nay, 1867, những điều thầy dạy, những điều trò học, toàn là những chuyện xa xưa. Lúc nhỏ thì học văn từ, thơ phú, lớn lên ra làm việc thì lại thấy luật-lịch-binh-hình… Xưa nay, trên thế giới chưa từng nước nào có nền học thuật như vậy... Nếu đem cái công phu cả đời đem tâm trí ra trau chuốt chữ nghĩa mà học những việc hiện tại như trận đồ, binh pháp, đắp thành giữ nước, sử dụng súng ống thì có thể chống được giăc...”
(Trích Nguyễn Trường Tộ - Con Người và Di Thảo, Trương Bá Cần, trang 76, NXB Tp. HCM, 1988).
Rất tiếc những lời cảnh báo về cái học từ chương, “toàn những chuyện xa xưa” không được vua quan để ý tới và kéo dài cho mãi đến bây giờ.
Mặc dầu việc phê phán của Nguyễn Trường Tộ nhằm vào thời kỳ còn nặng nho học, nhưng cái tinh thần ấy vẫn còn rơi rớt lại sau này. Chẳng hạn trong chương trình tiểu học của miền Nam sau này. Học trò tiểu học phải học thuộc lòng các bài địa lý, lịch sử, cách trí. Học thuộc lòng ra rả như cuốc kêu. Kể thật cùng tội. Các lớp trung học, nhất là ban Vạn vật thì Vạn vật cũng là môn học thuộc lòng, môn học đào luyện trí nhớ tốn bao thì giờ công sức mà xét ra ít hữu dụng. Các môn sử ký, địa lý trong cách giảng dạy, trong cách chấm điểm còn nặng tính từ chương, thiếu óc phê bình, thiếu nghị luận. Ngay các bài giảng văn cũng được diễn giải một chiều, ước lệ, có bài bản sẵn, ít đi ra ngoài thông lệ, ít sáng tạo, thiếu cách đặt lại vấn đề, thiếu phản biện.
Nói chung là còn vướng mắc nhiều tinh thần lệ thuộc. Lệ thuộc người xưa, lệ thuộc sách vở và ngay cả lệ thuộc vào ông thầy.
Các lớp dạy luyện thi cho thấy học trò lệ thuộc vào ông thầy như thế nào.
Và đây là một lời dạy khuôn vàng thước ngọc:
“Các người lại không bắt chước người đời xưa sao, hay là chỉ lấy tiếng ư? Học trò tranh nhau mài gọt, gây dựng nhân tài, để làm việc nước, có vậy mới không phụ ý trong việc học, hậu đãi người hiền, mọi người đều phải kính cẩn tuân theo.”
(Trích Đại Nam Thực Lục chánh biên).
Đại NamThực Lục chánh biên là sách ghi chép sử triều Nguyễn từ Gia Long đến Đồng Khánh, chia làm nhiều kỳ, mỗi kỳ là một đời vua. Có tất cả 6 kỳ.
Cái học lệ thuộc thầy, lệ thuộc “cours” còn tồn tại ngay ở các đại học. Sinh viên thi đỗ chỉ cần thuộc cours của giáo sư giảng trong lớp.
Thi cử lấy đỗ khá khắt khe.
Tiêu biểu cho sự khắt khe này là hình ảnh Vân Hạc trong Lều Chõng của Ngô Tất Tố, một sĩ phu tài tuấn, có lương tri, có tài học mà lận đận với thi cử. Nó là bản cáo trạng đối với tổ chức lề lối học hành và thi cử thời xưa, lãng phí nhân tài và chất xám của đất nước.
Người viết đã truy tìm một số kết quả các kỳ thi Trung Học Phổ Thông và tú tài sau 1954 để cho thấy việc thi cử là khắt khe quá. Nhưng kết quả tìm tòi còn chưa được như ý muốn.
Năm 1950, đại học văn khoa Sài Gòn, ở đường Garcerie nay là Phạm Ngọc Thạch mới có 50 sinh viên theo học và 50 dự thính viên. Trường Khoa Học mới có 14 sinh viên đậu chứng chỉ P.C.B, 2 sinh viên đậu S.P.C.N, 3 sinh viên đậu toán đại cương, 2 sinh viên đậu vật lý đại cương. Năm 1954-1955 có 13 bác sĩ, 11 dược sĩ, cử nhân luật 159 và rất tiến bộ đã có 135 người đậu chứng chỉ khoa học.
(Trích Địa chí Văn hóa TPHCM, trang 743-745)
Một học sinh giỏi nhất lớp ở ngoài Bắc vào năm 1948, vậy mà trong học bạ của anh, không phải điểm số nào anh cũng đạt trung bình (tác giả viết nhầm, không có điểm số nào anh đạt trung bình). Xem và đọc để thấy nó vô lý như thế nào!!!
Nguồn: NVL
Giỏi nhất lớp, thông minh mà điểm chưa đạt trung bình? Và đây là nhận xét của giáo sư Dương Thiệu Tống, người đã còn giữ học bạ này của học trò gửi cho làm kỷ niệm. (gs Dương Thiệu Tống, trường Trung Học kiểu Mẫu, Thủ Đức)
Ông nhận xét như sau:
“Điểm nhận xét đầu tiên của tôi là điểm số các môn học ngày xưa sao lại thấp đến thế, ngay cả đối với học sinh đứng nhất lớp như các thí dụ trên đây.
(Trích “Suy Nghĩ về giáo dục truyền thống và hiện đại”, Dương Thiệu Tống, nxb Trẻ, trang 279-281)
Nhưng câu nhận xét sau đây của giáo sư Dương Thiệu Tống thật hơi lạ.
“Vậy phải chăng các thầy giáo chúng tôi ngày xưa không bị áp lực bởi thi đua đạt thành tích nên có thể cho điểm trung thực hơn? Phải chăng chúng tôi quá khắt khe với học sinh? Hay là học sinh ngày nay giỏi hơn xưa quá nhiều? Tôi xin phép dành các câu hỏi này cho các đồng nghiệp và các trường học của chúng ta suy ngẫm và tìm giải đáp.”
(Trích như trên)
Giáo sư đã cho phép dành cho đồng nghiệp tìm ra giải đáp thì tôi xin được thưa với giáo sư như thế này. Giáo sư là thầy của nhiều thế hệ mà bản thân người viết bài này có thể chỉ là hàng con cháu. Giáo sư đã đi du học Hoa Kỳ mang về cái bằng Tiến sĩ giáo dục mà vấn đề cho điểm như trên, giáo sư lại thối thác không cho một giải đáp.
Thưa giáo sư, trồng cây thì phải có quả. Trồng tốt sẽ cho quả tốt. Trồng người cũng gần như vậy. Dạy học thì trò đi thi phải đỗ. Không đỗ thì phần trách nhiệm không nhỏ là do thầy, do chương trình, do xã hội. Điểm phi lý đến nực cười là cho điểm thì đều dưới trung bình mà lại đứng đầu lớp. Không lẽ học trò đều dốt cả? Cho dù thế nào đi nữa thì không có lý nào điểm thì kém, dưới trung bình trong khi lời phê của giáo sư thì nào là giỏi, thông minh, đáng khen. Như vậy thì nên căn cứ vào điểm hay vào lời phê? Lời phê như thế có phản ảnh đúng trình độ học sinh hay không? Giải pháp là xét lại thang điểm và thay đổi thái độ chấm bài, nhất là bài văn, cần kèm thêm các câu hỏi giáo khoa hay trắc nghiệm như sau này Bộ (Quốc gia) Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa đã đem ra áp dụng.
Thực ra khó khăn do thi cử và giáo dục thì ở đâu cũng có. Mỗi thời mỗi khó khăn khác. Như tỉnh Québec mà tôi đang ở. Mỗi năm dành 13 tỉ đô la dành cho giáo dục, vậy mà nhiều học trò trung học, ngay cả đại học còn viết đầy lỗi chính tả. Ngay ông Thủ tướng trong bài diễn văn đọc về cải cách giáo dục, người ta tìm ra được 13 lỗi phạm lớn:
“N’est–ce pas le premier ministre Jean Charest, qui dans un discours à l’Assemblée nationale, affirmait vouloir poursuivre ses efforts” pour améliorer la qualité de notre langue commune, le francais” alors qu’il remettait aux journalistes un texte comptant une douzaien de fautes majeures...” (Trích “Le grand mensonge de l’éducation”, Luc Germain, Luc Papineau, Benoit Séguin, trang12).
Phải chăng ngay cả ông Thủ tướng Charest trong một bài diễn văn đọc trước Quốc Hội khẳng định trong nỗ lực tiếp tục “Cải tiến phẩm chất tiếng nói chung của chúng ta là tiếng Pháp,” vậy mà, chính ông Thủ tướng đã phát cho các nhà báo một bản diễn văn trong đó tính ra có đến 13 lỗi phạm lớn.
Kinh nghiệm đi chấm thi tú tài 2 các bài Triết hay luận Pháp Văn, Anh Văn cho thấy hệ số bản thân người chấm, hệ số tin cậy và sai số do hai giám khảo chấm, cách nhau trung bình hai điểm, có khi là 4 điểm. Thường trước khi bắt đầu chấm, giám khảo ngồi thảo luận “thang điểm”. Phần này thì cho bao nhiêu điểm, phần kia bao nhiêu điểm. Sau đó cộng lại các điểm đã cho. Sự sai biệt giữa hai giám khảo chấm cũng một bài là từ hai đến ba điểm, có khi 5 điểm cho thấy việc chấm thi thiếu công bằng, thiếu khách quan. Giả dụ bài Triết ban C, hệ số 4. Cách nhau 3 điểm, nhân 4 trở thành cách nhau 12 điểm. Quá bất công cho học trò, vì nhiều khi chỉ cần một điểm là đủ đỗ?
Kinh nghiệm bản thân khi tôi thi tú tài 2 ban C, chọn Pháp Văn làm sinh ngữ một. Bài thi bắt buộc là một bài luận văn chương Pháp chọn trong các tác giả thế kỷ 19 như Victor Hugo, Alfred de Vigny, Lamartine, Chateaubriand, v.v... Sinh ngữ 2 là anh văn thì gồm có một bài luận luân lý. Cả năm đã học theo chương trình như thế. Nhưng nghe tin đồn là năm nay, giáo sư Nguyễn Văn Lúa, giáo sư Pháp Văn đại học Văn Khoa xuống chấm thi. Không ai bảo ai, một số học sinh sợ ăn điểm một hai gậy của giáo sư Lúa bèn trốn ông, chọn Anh Văn làm sinh ngữ một.
Tên sao trùng với người thế. Gặp ông là lúa đời rồi. Ông nổi tiếng hung thần đánh rớt học trò. Vậy mà được đồng nghiệp kính nể. Anh Văn vốn tôi đã chẳng giỏi gì, phần lớn thời gian tự học lấy trong “Butterfly”. Giọng đọc anh văn thì thầy còn đọc trật huống chi trò. Sang Mỹ này vừa chẵn 30 năm mà nói Mỹ vẫn chưa hiểu!!! Sau bài luận văn chương ép uổng đó, từ đó đến nay, tôi không hề dám viết một câu tiếng Anh nào nữa, mặc dầu việc biên khảo hiện nay, phần lớn, tôi đều dựa trên sách viết bằng tiếng Anh.
Nói theo kiểu giáo sư Dương Thiệu Tống, nói Mỹ nó không hiểu thì nó dốt hay mình dốt? Giáo sư Dương Thiệu Tống còn viết bài: Trẻ Chưa Ngoan, Nguyên nhân? Tôi thấy ông thật thà quá. Nguyên nhân chính là cộng sản mà ông cứ nói đâu đâu?
Ông Cụ Vương Hồng Sển trong cuốn Hơn nửa đời hư có kể đi dự thi concours để làm việc cho Pháp, thi mãi không đậu. Ông viết:
“Kỳ nầy, chua cay là rớt số Một, khít nút với người đội sổ. Gặp thầy bói tên Trần Thúc Sanh, coi tay và coi tướng, nói mình về già tốt phúc, năm nay không đậu vì tiểu nhơn ám hại, muốn đậu phải liều như đánh bài thua. Nhưng mình vẫn nhất quyết “Không liều như đánh bài,” chỉ còn tự trách còn óc mê tín, tin dị đoan và vẫn đi xem bói.” Cuối cùng ông kết luận: “Cám ơn đã được thi rớt.”
(Trích Hơn Nửa Đời Hư, Vương Hồng Sển, trang 226-228).
Nói chuyện với mấy vị giáo chức lớn tuổi, họ thường ân hận là trong đời đi dạy, họ đã chấm điểm ngặt nghèo qua. Vì mình mà có đứa phải đi lính, có đứa biết đâu vì thế chết ngoài mặt trận.
Sau đây là kết quả các kỳ thi tú tài 1 và tú tài 2 vào niên khóa 1954-1955 cho thấy kết quả thí sinh thi đỗ là bao nhiêu của hai chương trình Việt và Pháp lúc bấy giờ.
Bảng 1: Kết quả kỳ thi tú tài I và 2,chương trình giáo dục Việt Nam 1953-1954, Sài Gòn-Nam Bộ
Nguồn: Việt Nam niên giám thống kê, trang 126-130
Bảng 2: Kết quả kỳ thi tú tài 1 và 2 chương trình Pháp 1954-1955Nguồn: Việt Nam niên giám thống kê, trang 126-130
Một vài nhận xét
Tú tài Việt
Đây là năm cuối cùng của việc thi cử trong hệ thống giáo dục của Pháp.
■ Nên nhớ rằng, chính phủ quốc gia chỉ mới công bố chương trình thi lấy bằng Trung Học Phổ thông đệ nhất cấp kể từ 1950. Khóa 1, tháng sáu/1950, khóa 2 vào tháng 9/1950.
■ Vì thế không lạ gì số học sinh trường Việt dự thi ít hơn trường Pháp đến gần một nửa. Điều đó cho thấy việc học chỉ dành cho những người có tiền của, loại con ông cháu cha khác hẳn kỳ thi năm 1955-1956. Trường Petrus Ký, Gia Long mới chỉ bắt đầu mở các lớp đệ thất dạy chương trình Việt, nhưng vẫn duy trì một số lớp chương trình Pháp.
■ Tỉ lệ tú tài 1: thí sinh thi đỗ tú tài 1, Việt Nam, kỳ 1 là 25% cộng cả hai kỳ là 35%. Thấp.
■ Tỉ lệ thí sinh bỏ dự thi tú tài 1, kỳ 2, rất cao. Điều đó cho thấy, người giỏi thì đỗ ngay kỳ đầu, người không học, sau khi thi thử kỳ đầu, không đậu đã bỏ luôn, không dự kỳ khóa hai. Đáng nhẽ phải có hơn 800 dự thi khóa hai, chỉ còn hơn 500 dự thi khóa hai. Đã có khoảng 300 người bỏ cuộc. Cho dù thi lại, tỉ lệ thi đậu chỉ hơn 10% so với kỳ đầu là 25%.
■ Tỉ lệ tú tài 2: Những người thi tú tài 2 đều giỏi vì đã được sàng lọc trong kỳ thi tú tài 1. Vì thế tỉ lệ thi đỗ rất cao so với tú tài 1. 70%. Số lượng những người tham dự kỳ thi tú tài 2, khóa hai cũng rất cao, chỉ vắng mặt vài chục người, vì họ tin rằng họ có thể thi đậu nên không bỏ cuộc.
■ Tỉ lệ thi Trung học đệ nhất cấp đậu cao, đến hơn 50%.
■ Những con số thi cử này sẽ thay đổi nhiều trong các năm tới khi có số đông học sinh di cư vào Nam cũng như các trường trung học mở ra khắp nơi.
Tú tài Pháp
■ Nhận xét thứ nhất là thi tú tài Pháp gay go và khó đỗ hơn tú tài Việt. Vì họ chỉ thi có một kỳ, không có kỳ 2. Tỉ lệ thí sinh thi đậu chỉ đạt 20- 25%. Vì thế sau này không lạ gì, nhiều học sinh đổi sang trường Việt học thi cả hai kỳ thi Việt Pháp. Tại trường Cao Bá Nhạ, gần đường Cống Quỳnh, Trần Hưng Đạo, có một trung tâm luyện thi dành cho học sinh chương trình Pháp thi tú tài Việt. Ai là người đã học trong hai lớp này?
■ So sánh hai bảng thì kết quả thi cử Việt Nam cho đỗ nhiều hơn thí sinh người Pháp. Phải chăng học sinh Việt Nam học giỏi hơn người Phảp, chăm hơn người Pháp? Tôi nghiêng về lý do giám khảo Việt Nam chấm rộng hơn giám khảo Pháp.
Và đó phải coi là một ưu điểm, tiến bộ về phía giám khảo Việt Nam.
Thi cử qua các kỳ thi tú tài 1 và 2 ở miền Nam là công bằng vì tổ chức chặt chẽ và vì lương tâm nhà giáo.
Xem tiếp phần II ở đây
(Còn tiếp)
Friday, June 17, 2011
Quốc tang Yên Bái (*) 17 tháng 6
Ngày này cách nay 81 năm, sáng sớm ngày 17 tháng 6 năm 1930 thực dân Pháp đem thi hành án Nguyễn Thái Học Đảng trưởng Quốc Dân Đảng, phát động Khởi nghĩa Yên Bái cùng 12 đồng chí của ông là:
Bùi Tử Toàn
Bùi Văn Chuẩn
Nguyễn Ân
Hà Văn Lao
Đào Văn Nhít
Ngô Văn Du
Nguyễn Đức Thịnh
Nguyễn Văn Tiềm
Đỗ Văn Sứ
Bùi Văn Cửu
Nguyễn Như Liên
Phó Đức Chính
Trong đó có những người trẻ như Nguyễn Như Liên (bí danh Ngọc Tỉnh) 20 tuổi đang là học sinh; Hà Văn Lao 25 tuổi làm thợ hồ; Bùi Tử Đoàn 37 tuổi là nông dân. Phó đảng trưởng Phó Đức Chính (cháu nội là nhạc sĩ Phó Đức Phương) yêu cầu được nằm ngửa khi bị hành quyết để xem lưỡi dao máy chém tàn ác thế nào.
Cuộc khởi nghĩa được tiến hành vào sáng sớm 10 tháng 2 năm 1930 mau chóng bị thất bại. Do phương tiện thông tin liên lạc còn thô sơ, không còn đủ thời gian thu hồi lệnh nên cuộc khởi nghĩa bị động tiến hành theo dự định. Một nguyên nhân có thể là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại có thể là từ những đồng hương hiểm ác.
Trước đó năm 1929 một số đảng viên VN QDĐ được cử qua Xiêm (Siam, Thái ngày nay) để mua vũ khí. Nhóm này đã liên hệ với những nhóm đồng hương khác đang hoạt động cách mạng trên đất Xiêm, để nắm thông tin về các mối cung cấp. Nhóm VN QDĐ này gồm các ông Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Văn Tiềm và Hồ Văn Mịch đã bị Pháp bắt ngay khi trở về nước. Các ông này bị xử tù chung thân và bị đày đi Côn Đảo.
Việc mật thám Pháp biết rõ về hành tung của những người này bên Xiêm là một nghi vấn về liên hệ giữa mật thám Pháp với những đồng hương người Việt đang hoạt động trên đất Xiêm lúc đó.
***
(*) Trong các văn bản trước đây người ta hay viết Yên Báy, cách viết này không đúng do lẽ văn bản Pháp văn viết là Yen Bay để phù hợp với lối phát âm của người Pháp. Tương tự đó là Hồng Gai (Hon Gay), Lào Cai (Lao Kay), Mã lai (Malay)
Wednesday, June 15, 2011
Biển Đông, chuyện nội bộ của hai nước XHCN anh em
Giữa lúc kinh tế khó khăn, lạm phát phi mã, đời sống người lao động khó khăn, BĐS đóng băng, thiếu vốn, lãi suất cao, nợ xấu ngân hàng cao chưa từng có trong lịch sử thì phát sinh cái gọi là "sự kiện cắt cáp". Xin lưu ý là sự kiện "cắt cáp" diễn ra ở tít ngoài biển khơi, nơi mà ở đó sản lượng khai thác dầu không ai có thể biết được.
Tiếp theo là Hội nghị quân sự hàng niên diễn ra tại khách sạn Shangri-La, các nước lớn nước bé tuyên bố vung vít về yêu chuộng hòa bình, người không động đến ta thì ta không động đến người. Tiếp sau đó là "cắt cáp" lại diễn ra tiếp tục, một bên phản đối bên kia phá hoại, bên nọ phản đối bên này vi phạm "nhận thức chung" của lãnh đạo. Thế giới thông tin tưởng dễ dàng nắm bắt qua cái monitor 14" vậy mà không phải, không ai có thể biết được sự thật trừ những người biết mà những người thực sự biết lại không nói.
Có vẻ như một chiến dịch báo chí được viết ra chỉ để dành cho người Việt đọc. Tóm lược những tin bài xoay quanh các nội dung: TQ vi phạm đặc quyền kinh tế, nền kinh tế TQ không ổn định sắp sụp đổ, VN chuẩn bị sẵn sàng cho chiến tranh tuy rằng không muốn. Phong trào phản kháng sự bất công của TQ bởi những người vô danh (biểu tình, tụ tập đông người không xin phép), hoặc là những cán bộ có kinh nghiệm đối ngoại với TQ nhưng đã về hưu như các cụ DDD, NTV, ĐSN, hoặc là những cán bộ giảng dạy biến chất ở nước ngoài như TS Khương, hoặc những hội quần chúng như Hội Khoan, Hội Dầu,
Yếu tố nước ngoài nhân cơ hội này đục nước béo cò, đó là Đài Loan nhận một phần hay tất cả các hải đảo ở Biển Đông, đó là con hổ giấy Hoa Kỳ không có liên quan địa chính trị nhưng đòi quyền lưu thông hàng hải bất kể dân sự hay quân sự, đó là những xứ trong lục địa không có bờ biển như Lào hay xứ không có bờ biển liên hệ như Miến cũng có chân tham gia vào việc bỏ phiếu chủ quyền biển.
Riêng con hổ giấy Mỹ, cường quốc hải quân trong quá khứ, với gánh nặng nợ nần và PPP đầu người đứng thứ nhì thế giới sau TQ, phải vét những đồng xu rỉ cuối cùng trong ngân sách để hành quân đến Biển Đông. Báo chí đang hướng dư luận đến sự ủng hộ từ phía Mỹ, một kẻ thù chiến lược của VN được ghi trong Hiến pháp 1980 bên cạnh TQ với tư cách là kẻ thù Trước mắt trực tiếp nguy hiểm. Chuyện như đùa: Tìm kiếm sự ủng hộ từ Kẻ thù Chiến lược Lâu dài để chống lại Kẻ thù Trước mắt Trực tiếp Nguy hiểm. Chuyện vô lý nghĩa là nó sẽ không thể xảy ra.
***
Thời sự đáng quan tâm
Nợ xấu của các ngân hàng VN chiếm 13% tổng dự nợ. Ai có tiền ký thác ở ngân hàng hãy mau rút về, bảo hiểm tiền gửi "tối đa" là 50 triệu đồng cả vốn lẫn lãi là con số tham khảo.
Các chuyên gia tài chính tiền tệ đang vắt óc ra nghĩ cách làm thế nào "Huy động" hơn 1000 tấn vàng tiết kiệm trong dân. Vàng khác với tiền ở chỗ là trương chủ phải đáo hạn mới được rút hay nói cách khác là hoàn toàn mất quyền sở hữu trước khi đáo hạn. Cho nên không vì giám đốc hay chủ tịch ngân hàng bỏ trốn mà tới khiếu nại, mọi việc đáo hạn mới giải quyết.
Tiếp theo là Hội nghị quân sự hàng niên diễn ra tại khách sạn Shangri-La, các nước lớn nước bé tuyên bố vung vít về yêu chuộng hòa bình, người không động đến ta thì ta không động đến người. Tiếp sau đó là "cắt cáp" lại diễn ra tiếp tục, một bên phản đối bên kia phá hoại, bên nọ phản đối bên này vi phạm "nhận thức chung" của lãnh đạo. Thế giới thông tin tưởng dễ dàng nắm bắt qua cái monitor 14" vậy mà không phải, không ai có thể biết được sự thật trừ những người biết mà những người thực sự biết lại không nói.
Có vẻ như một chiến dịch báo chí được viết ra chỉ để dành cho người Việt đọc. Tóm lược những tin bài xoay quanh các nội dung: TQ vi phạm đặc quyền kinh tế, nền kinh tế TQ không ổn định sắp sụp đổ, VN chuẩn bị sẵn sàng cho chiến tranh tuy rằng không muốn. Phong trào phản kháng sự bất công của TQ bởi những người vô danh (biểu tình, tụ tập đông người không xin phép), hoặc là những cán bộ có kinh nghiệm đối ngoại với TQ nhưng đã về hưu như các cụ DDD, NTV, ĐSN, hoặc là những cán bộ giảng dạy biến chất ở nước ngoài như TS Khương, hoặc những hội quần chúng như Hội Khoan, Hội Dầu,
Yếu tố nước ngoài nhân cơ hội này đục nước béo cò, đó là Đài Loan nhận một phần hay tất cả các hải đảo ở Biển Đông, đó là con hổ giấy Hoa Kỳ không có liên quan địa chính trị nhưng đòi quyền lưu thông hàng hải bất kể dân sự hay quân sự, đó là những xứ trong lục địa không có bờ biển như Lào hay xứ không có bờ biển liên hệ như Miến cũng có chân tham gia vào việc bỏ phiếu chủ quyền biển.
Riêng con hổ giấy Mỹ, cường quốc hải quân trong quá khứ, với gánh nặng nợ nần và PPP đầu người đứng thứ nhì thế giới sau TQ, phải vét những đồng xu rỉ cuối cùng trong ngân sách để hành quân đến Biển Đông. Báo chí đang hướng dư luận đến sự ủng hộ từ phía Mỹ, một kẻ thù chiến lược của VN được ghi trong Hiến pháp 1980 bên cạnh TQ với tư cách là kẻ thù Trước mắt trực tiếp nguy hiểm. Chuyện như đùa: Tìm kiếm sự ủng hộ từ Kẻ thù Chiến lược Lâu dài để chống lại Kẻ thù Trước mắt Trực tiếp Nguy hiểm. Chuyện vô lý nghĩa là nó sẽ không thể xảy ra.
***
Thời sự đáng quan tâm
Nợ xấu của các ngân hàng VN chiếm 13% tổng dự nợ. Ai có tiền ký thác ở ngân hàng hãy mau rút về, bảo hiểm tiền gửi "tối đa" là 50 triệu đồng cả vốn lẫn lãi là con số tham khảo.
Các chuyên gia tài chính tiền tệ đang vắt óc ra nghĩ cách làm thế nào "Huy động" hơn 1000 tấn vàng tiết kiệm trong dân. Vàng khác với tiền ở chỗ là trương chủ phải đáo hạn mới được rút hay nói cách khác là hoàn toàn mất quyền sở hữu trước khi đáo hạn. Cho nên không vì giám đốc hay chủ tịch ngân hàng bỏ trốn mà tới khiếu nại, mọi việc đáo hạn mới giải quyết.
Sunday, June 12, 2011
Đôi nét về bác sĩ Phillips Rosler
Philips Rosler (PR) chỉ biết mình gốc Việt nhưng không biết cha mẹ là ai, được nuôi dưỡng trong một cô nhi viện Công giáo. Cho đến khi được 9 tháng tuổi, được một cặp người Đức đã có 2 con gái nhận nuôi. Ông sống với cha nuôi là một bác sĩ quân y, và theo cha trên khắp các nẻo đường chinh chiến. Ông lớn lên tại những nơi cha đóng quân là Humberg, Buckeburg và Hanover.
Ông gia nhập quân đội và nguyện nối nghiệp cha theo ngành quân y. PR được tạm xuất ngũ để theo học Y khoa Hanover, 1999 thực tập và tốt nghiệp tại Viên quân y Hanover, Tiến sĩ Y khoa năm 2002. Sau 16 năm phục vụ trong quân đội, PR xuất ngũ làm bác sỹ chuyên khoa giải phẫu tim.
Năm 1992 PR tham gia đảng Dân chủ Tự do (FDP). 2000 đến 2004 làm Bí thư FDP tại Hạ Saxony. Năm 2005 PR trúng cử vào Trung ương FDP với 95% phiếu, thành tích cao nhất của đảng này. Tháng 3 năm 2006 PR trúng cử chức chủ tịch FDP Hạ Saxony với 94.6% phiếu.
Tháng 2 năm 2008 PR được bổ nhiệm làm Bộ trưởng, phó Thủ hiến tiểu bang Hạ Saxony. Tháng 10 năm 2009 được cử làm Bộ trưởng Y tế Liên bang trong nội các Merkel. Tháng 5 năm 2011 PR được bầu làm chủ tịch FDP, bộ trưởng Kinh - Kỹ liên bang kiêm phó thủ tướng Đức quốc.
Là chính trị gia người Đức, PR thường xuyên tiếp xúc với cộng đồng người Việt tại Đức. Trước buổi lễ khánh thành đài tưởng niệm VN tại Hamburg, PR chịu sức ép từ nhiều phía trong đó có tòa đại sứ CHXHCN VN, khuyến cáo ông đừng tham gia vì đụng chạm chính trị. Ông trả lời ông đến đó vì lý do chính trị.
Ông gia nhập quân đội và nguyện nối nghiệp cha theo ngành quân y. PR được tạm xuất ngũ để theo học Y khoa Hanover, 1999 thực tập và tốt nghiệp tại Viên quân y Hanover, Tiến sĩ Y khoa năm 2002. Sau 16 năm phục vụ trong quân đội, PR xuất ngũ làm bác sỹ chuyên khoa giải phẫu tim.
Năm 1992 PR tham gia đảng Dân chủ Tự do (FDP). 2000 đến 2004 làm Bí thư FDP tại Hạ Saxony. Năm 2005 PR trúng cử vào Trung ương FDP với 95% phiếu, thành tích cao nhất của đảng này. Tháng 3 năm 2006 PR trúng cử chức chủ tịch FDP Hạ Saxony với 94.6% phiếu.
Tháng 2 năm 2008 PR được bổ nhiệm làm Bộ trưởng, phó Thủ hiến tiểu bang Hạ Saxony. Tháng 10 năm 2009 được cử làm Bộ trưởng Y tế Liên bang trong nội các Merkel. Tháng 5 năm 2011 PR được bầu làm chủ tịch FDP, bộ trưởng Kinh - Kỹ liên bang kiêm phó thủ tướng Đức quốc.
Là chính trị gia người Đức, PR thường xuyên tiếp xúc với cộng đồng người Việt tại Đức. Trước buổi lễ khánh thành đài tưởng niệm VN tại Hamburg, PR chịu sức ép từ nhiều phía trong đó có tòa đại sứ CHXHCN VN, khuyến cáo ông đừng tham gia vì đụng chạm chính trị. Ông trả lời ông đến đó vì lý do chính trị.
Friday, June 10, 2011
Những cái miệng có gang có thép nói gì
Bộ trưởng Quốc phòng của Cường quốc II Lương Quang Liệt nói rằng TQ không có tham vọng làm chủ biển Đông, Bắc Kinh luôn luôn mong mỏi và kiến tạo hòa bình cho khu vực này. Nhiều người cho rằng với mức tăng trưởng kinh tế hiện có, TQ là mối đe dọa quân sự với các nước lân bang và cho cả khu vực. Bắc Kinh không có tham vọng và tìm kiếm bá quyền và đe dọa các nước khác. Tuy nhiên TQ yêu cầu cộng đồng Quốc tế phải tôn trọng những quyết định của chính quyền Bắc Kinh, cảnh cáo những nước nào tham gia vào liên minh chống lại TQ. TQ đã thiết lập trao đổi đối thoại và an ninh với 22 nước trong đó có Hoa Kỳ, có trao đổi hoạt động quân sự với 150 nước.
Quốc vụ khanh bộ Quốc phòng sắp mãn nhiệm R. Gates tuyên bố đại ý: Vì lý do kinh tế và thương mại, quyền lợi nước Mỹ luôn gắn với sự tự do và an toàn giao thông trên mặt biển. Có nguy cơ nổ ra một xung đột quân sự trên Biển Đông nếu như các nước trong vùng không đạt được một cơ cấu đa phương, để giải quyết ôn hòa các vụ tranh chấp lãnh hải. HK sẽ duy trì sự hiện diện hùng hậu tại Á châu bằng các loại vũ khí mới để bảo vệ đồng minh và các tuyến giao thông hàng hải quốc tế. Các loại vũ khí này nhằm đáp ứng nhanh chóng và hữu hiệu với những phương tiện công nghệ và vũ khí có thể được sử dụng trong tương lai nhằm ngăn chặn quân lực Mỹ đi vào các tuyền giao thông hàng hải quốc tế then chốt.
Về cuộc gặp giữa hai bộ trưởng họ Phùng và họ Lương,
Theo Vienamnet: Bộ trưởng Quốc phòng VN đề nghị các cơ quan cấp dưới của cả 2 bên chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của lãnh đạo hai nước. Bình tĩnh giải quyết thông qua đàm phán dựa trên luật pháp quốc tế. Bộ trưởng Quốc phòng TQ sẵn sàng thảo luận ở các diễn đàn đa phương, phản đối các hành động đơn phương, cam kết duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông.
China daily: Bộ trưởng Quốc phòng VN ủng hộ giải quyết tranh chấp trên Biển Đông thông qua đối thoại song phương, không có sự can thiệp của bên thứ ba. Khẳng định 4 tốt láng giềng tốt, đối tác tốt, bạn tốt, đồng chí tốt.
Theo tờ Hoàn Cầu: vụ tàu BM2 nghiêm trọng nhất trong những năm gần đây thách thức lòng kiên nhẫn của TQ. Sự kiềm chế của TQ không phải là không có giới hạn.
Chả biết ai đáng tin hơn ai.
Quốc vụ khanh bộ Quốc phòng sắp mãn nhiệm R. Gates tuyên bố đại ý: Vì lý do kinh tế và thương mại, quyền lợi nước Mỹ luôn gắn với sự tự do và an toàn giao thông trên mặt biển. Có nguy cơ nổ ra một xung đột quân sự trên Biển Đông nếu như các nước trong vùng không đạt được một cơ cấu đa phương, để giải quyết ôn hòa các vụ tranh chấp lãnh hải. HK sẽ duy trì sự hiện diện hùng hậu tại Á châu bằng các loại vũ khí mới để bảo vệ đồng minh và các tuyến giao thông hàng hải quốc tế. Các loại vũ khí này nhằm đáp ứng nhanh chóng và hữu hiệu với những phương tiện công nghệ và vũ khí có thể được sử dụng trong tương lai nhằm ngăn chặn quân lực Mỹ đi vào các tuyền giao thông hàng hải quốc tế then chốt.
Về cuộc gặp giữa hai bộ trưởng họ Phùng và họ Lương,
Theo Vienamnet: Bộ trưởng Quốc phòng VN đề nghị các cơ quan cấp dưới của cả 2 bên chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của lãnh đạo hai nước. Bình tĩnh giải quyết thông qua đàm phán dựa trên luật pháp quốc tế. Bộ trưởng Quốc phòng TQ sẵn sàng thảo luận ở các diễn đàn đa phương, phản đối các hành động đơn phương, cam kết duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông.
China daily: Bộ trưởng Quốc phòng VN ủng hộ giải quyết tranh chấp trên Biển Đông thông qua đối thoại song phương, không có sự can thiệp của bên thứ ba. Khẳng định 4 tốt láng giềng tốt, đối tác tốt, bạn tốt, đồng chí tốt.
Theo tờ Hoàn Cầu: vụ tàu BM2 nghiêm trọng nhất trong những năm gần đây thách thức lòng kiên nhẫn của TQ. Sự kiềm chế của TQ không phải là không có giới hạn.
Chả biết ai đáng tin hơn ai.
Tuesday, June 7, 2011
Hãy là bạn, đừng kỳ thị E. Coli
Dịch tả ở Đức hạ tuần tháng 5 làm thiệt mạng gần 20 người. Nguyên nhân được xác định xưa như từ thời Trung cổ, đó là nhiễm khuẩn E. Coli (đọc là Ê Cô li, Mẽo đọc là I cô lai). Bài viết này không có ý múa rìu qua mắt thợ về vi trùng học nói chung và về chủng E Coli nói riêng.
Cứ mỗi độ ngập lụt, ta lại nghe dịch tễ ta thán, rằng nồng độ E. Coli là bao nhiêu bao nhiêu, nguy hiểm lắm, bà con ạ, hãy tránh xa nước ấy ra. Vậy E. Coli là cái gì mà ghê tởm như dịch hạch thế. Escherichia coli (đọc là E sơ ri ki a Cô li) thường được viết thân thương gần gũi hơn bằng E. Coli, là một loại vi khuẩn cần thiết cho sự tiêu hóa. Nó sống hòa bình trong ruột già chúng ta, hỗ trợ cho khâu cuối cùng của chuỗi tiêu hóa và giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn từ bên ngoài. Và trên thực tế E. Coli luôn tồn tại chung với nước như hình với bóng, chỗ nào có nước, chỗ ấy có E. Coli.
Đáng tiếc là E. Coli chỉ tốt khi nó nằm ở trong ruột và không tốt tý nào khi nó nhập vô đường miệng. Để dễ hình dung Quân giải phóng TQ được xem là tốt với dân TQ nhưng độc hại đối với ngư dân VN. Thông thường một vài con E. Coli đi vào miệng sẽ được đáp ứng bởi hàng triệu con trong ruột và là chuyện hàng ngày trong hệ tiêu hóa của chúng ta, hình thành nên miễn dịch E. Coli. Các cụ ta không diễn giải bằng vi trùng học mà chỉ đơn giản là "ăn bẩn sống lâu".
Thời Trung cổ, nguồn nước sinh hoạt hay bị hòa lẫn với nguồn chất thải tiêu hóa, nôm na là phân lẫn với thức ăn, nước uống. Ngay từ thời La Mã người ta đã xây dựng hệ thống nước sạch nhằm cách ly với nước thải, hệ thống này tồn tại cho đến ngày nay, là điểm thu hút khách du lịch thăm Ý quốc.
Người Âu ngày nay tiếng là ở sạch, trong hệ thống nước của họ xem như không tồn tại E. Coli. Điều này có hại cho hệ miễn dịch của họ, E. coli trong ruột không thanh toán được E. coli từ bên ngoài xâm nhập. Thể hiện là người ở xứ "sạch sẽ" sang xứ "sống lâu" thường dễ bị đau bụng. Và dịch tả Đức quốc hạ tuần tháng 5 cũng là hậu quả của việc "ở sạch". Tuy Pháp quốc không có người chết vì dịch tả, nhưng số người nhập viện hay phải nằm bẹp ở nhà không ít.
Sự việc xảy ra đột ngột ngay tại xứ sở được coi là văn minh nhất địa cầu. Giới khoa học bị shock nên đổ thừa tại chủng khuẩn xứ nóng nực Nam Âu, xuất phát từ xứ bò Tây Ban Nha. Khoa giới ngụy biện rằng, chủng Entero hemorric E. coli ( viết tắt là EHEC) dịch word by word nghĩa là xuất huyết ruột, có trong phân bò là nguyên nhân. Họ phân tích rằng EHEC là nguyên nhân gây ra Hội chứng suy thận cấp (dịch từ hemolytic-uremic syndrome) gây ra đột tử do vỡ hồng huyết cầu thận. Họ cho rằng dịch tả Âu châu hôm nay do rau tươi nhiểm khuẩn này không dưa chuột thì giá sống.
Số nạn nhân tại Đức quốc là những người lớn, trưởng thành và còn trẻ, không có đối tượng trẻ em và người già. Chứng tỏ những người trẻ đi ăn hàng ăn rau sống như dưa leo hay giá sống là những người mắc phải. Người già và trẻ em, ăn ở nhà và thức ăn nấu chín không bị mắc phải. E. coli dễ dàng bị chết ở nhiệt độ 70 độ C, phương pháp thanh trùng pasteur hoàn toàn có thể loại trừ.
Cứ mỗi độ ngập lụt, ta lại nghe dịch tễ ta thán, rằng nồng độ E. Coli là bao nhiêu bao nhiêu, nguy hiểm lắm, bà con ạ, hãy tránh xa nước ấy ra. Vậy E. Coli là cái gì mà ghê tởm như dịch hạch thế. Escherichia coli (đọc là E sơ ri ki a Cô li) thường được viết thân thương gần gũi hơn bằng E. Coli, là một loại vi khuẩn cần thiết cho sự tiêu hóa. Nó sống hòa bình trong ruột già chúng ta, hỗ trợ cho khâu cuối cùng của chuỗi tiêu hóa và giúp cơ thể chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn từ bên ngoài. Và trên thực tế E. Coli luôn tồn tại chung với nước như hình với bóng, chỗ nào có nước, chỗ ấy có E. Coli.
Đáng tiếc là E. Coli chỉ tốt khi nó nằm ở trong ruột và không tốt tý nào khi nó nhập vô đường miệng. Để dễ hình dung Quân giải phóng TQ được xem là tốt với dân TQ nhưng độc hại đối với ngư dân VN. Thông thường một vài con E. Coli đi vào miệng sẽ được đáp ứng bởi hàng triệu con trong ruột và là chuyện hàng ngày trong hệ tiêu hóa của chúng ta, hình thành nên miễn dịch E. Coli. Các cụ ta không diễn giải bằng vi trùng học mà chỉ đơn giản là "ăn bẩn sống lâu".
Thời Trung cổ, nguồn nước sinh hoạt hay bị hòa lẫn với nguồn chất thải tiêu hóa, nôm na là phân lẫn với thức ăn, nước uống. Ngay từ thời La Mã người ta đã xây dựng hệ thống nước sạch nhằm cách ly với nước thải, hệ thống này tồn tại cho đến ngày nay, là điểm thu hút khách du lịch thăm Ý quốc.
Người Âu ngày nay tiếng là ở sạch, trong hệ thống nước của họ xem như không tồn tại E. Coli. Điều này có hại cho hệ miễn dịch của họ, E. coli trong ruột không thanh toán được E. coli từ bên ngoài xâm nhập. Thể hiện là người ở xứ "sạch sẽ" sang xứ "sống lâu" thường dễ bị đau bụng. Và dịch tả Đức quốc hạ tuần tháng 5 cũng là hậu quả của việc "ở sạch". Tuy Pháp quốc không có người chết vì dịch tả, nhưng số người nhập viện hay phải nằm bẹp ở nhà không ít.
Sự việc xảy ra đột ngột ngay tại xứ sở được coi là văn minh nhất địa cầu. Giới khoa học bị shock nên đổ thừa tại chủng khuẩn xứ nóng nực Nam Âu, xuất phát từ xứ bò Tây Ban Nha. Khoa giới ngụy biện rằng, chủng Entero hemorric E. coli ( viết tắt là EHEC) dịch word by word nghĩa là xuất huyết ruột, có trong phân bò là nguyên nhân. Họ phân tích rằng EHEC là nguyên nhân gây ra Hội chứng suy thận cấp (dịch từ hemolytic-uremic syndrome) gây ra đột tử do vỡ hồng huyết cầu thận. Họ cho rằng dịch tả Âu châu hôm nay do rau tươi nhiểm khuẩn này không dưa chuột thì giá sống.
Số nạn nhân tại Đức quốc là những người lớn, trưởng thành và còn trẻ, không có đối tượng trẻ em và người già. Chứng tỏ những người trẻ đi ăn hàng ăn rau sống như dưa leo hay giá sống là những người mắc phải. Người già và trẻ em, ăn ở nhà và thức ăn nấu chín không bị mắc phải. E. coli dễ dàng bị chết ở nhiệt độ 70 độ C, phương pháp thanh trùng pasteur hoàn toàn có thể loại trừ.
Saturday, June 4, 2011
Cần nâng cao nhận thức chính trị
Sự kiện 26/5 chưa biết thực hư ra sao, không có nguồn tin thứ hai ngoài TTXVN để kiểm chứng. Từ Hội nghị Shangri-La Bộ trưởng Lương Quang Liệt tuyên bố với Bộ trưởng Phùng Quang Thanh rằng Không có sự can dự của Hải quân Quân giải phóng TQ. Vậy là đã rõ, chủ trương của lãnh đạo cấp cao hai nước là nhất quán, không có chuyện xung đột.
Mấy ngày nay, khắp các trang mạng tiếng Việt nổi bật là các cuộc vận động netter đi biểu tình chống cái gì chưa rõ. Đáng chú ý là ngoài các nhà dân chủ giả hiệu còn có sự tham gia tích cực của một số công chức, phóng viên báo chí trong biên chế. Chúng tôi nhận thấy có những bất thường trong hoạt động này, cần cảnh báo để mọi người lưu ý.
Theo thông lệ những cuộc biểu tình mít tinh ủng hộ hay phản đối cái gì đó đều phải do một tổ chức đứng ra phát động, có xin phép nhà cầm quyền về nội dung và phạm vi hoạt động của cuộc tụ họp đông người đó. Tổ chức phát động đó phải có trách nhiệm bồi dưỡng vật chất cho những người biểu tình. Kinh phí dùng để bồi dưỡng tối thiểu phải tương đương với 1/2 ngày công lao động. Đó là điều kiện cần và đủ để triệu tập một cuộc tụ họp đông người không vì lợi ích cá nhân.
Khí đáp ứng đủ những điều kiện trên, những người tham gia phải cân nhắc những lựa chọn về lợi ích sau đây:
Đối với trẻ vị thành niên (dưới 18 tuổi) việc tham gia tụ tập với người lớn phải được cấm đoán.
Đối với sinh viên, các bạn có nguy cơ bị đuổi học và vĩnh viễn bị cấm dưới mái trường XHCN. Cánh cửa vào đời của các bạn bị khép lại. Với mảnh bằng cấp 3 các bạn chỉ có thể xin việc những vị trí phổ thông, lương thấp (nói chữ là Thân bại Danh liệt).
Với các vị hưu trí, khi tại chức các vị đã hoặc là tham nhũng nhiều rồi hoặc là đã từng bức hại người ngay. Bây giờ hoạt động của các vị hòng kiếm chác danh tiếng gì đây.
Với những người có công ăn việc làm ổn định, liệu những sự kiện vừa xảy ra có xâm hại đến lương bổng hay cơ hội tăng tiến của các bạn không. Việc ngưng công việc để tham gia tụ họp có xâm phạm đến tiến độ của doanh nghiệp không.
Với những công chức nhà nước, những phóng viên trong biên chế, công khai chỉ trích chính quyền, công khai vận động tụ họp đông người mà vẫn bảo toàn chức vụ, phải chăng họ được phân công để định hướng quần chúng. Hãy xem mục đích của những người thuộc thành phần này.
Nâng cao nhận thức chính trị là: Phải nhận thức được lợi ích của mỗi chúng ta khi định tham gia vào một sinh hoạt xã hội. Làm gì chúng ta cũng cần phải phân tích lợi hại để không bị những thành phần không rõ ràng lôi kéo để trục lợi từ những thông tin không thể kiểm chứng .

Mấy ngày nay, khắp các trang mạng tiếng Việt nổi bật là các cuộc vận động netter đi biểu tình chống cái gì chưa rõ. Đáng chú ý là ngoài các nhà dân chủ giả hiệu còn có sự tham gia tích cực của một số công chức, phóng viên báo chí trong biên chế. Chúng tôi nhận thấy có những bất thường trong hoạt động này, cần cảnh báo để mọi người lưu ý.
Theo thông lệ những cuộc biểu tình mít tinh ủng hộ hay phản đối cái gì đó đều phải do một tổ chức đứng ra phát động, có xin phép nhà cầm quyền về nội dung và phạm vi hoạt động của cuộc tụ họp đông người đó. Tổ chức phát động đó phải có trách nhiệm bồi dưỡng vật chất cho những người biểu tình. Kinh phí dùng để bồi dưỡng tối thiểu phải tương đương với 1/2 ngày công lao động. Đó là điều kiện cần và đủ để triệu tập một cuộc tụ họp đông người không vì lợi ích cá nhân.
Khí đáp ứng đủ những điều kiện trên, những người tham gia phải cân nhắc những lựa chọn về lợi ích sau đây:
Đối với trẻ vị thành niên (dưới 18 tuổi) việc tham gia tụ tập với người lớn phải được cấm đoán.
Đối với sinh viên, các bạn có nguy cơ bị đuổi học và vĩnh viễn bị cấm dưới mái trường XHCN. Cánh cửa vào đời của các bạn bị khép lại. Với mảnh bằng cấp 3 các bạn chỉ có thể xin việc những vị trí phổ thông, lương thấp (nói chữ là Thân bại Danh liệt).
Với các vị hưu trí, khi tại chức các vị đã hoặc là tham nhũng nhiều rồi hoặc là đã từng bức hại người ngay. Bây giờ hoạt động của các vị hòng kiếm chác danh tiếng gì đây.
Với những người có công ăn việc làm ổn định, liệu những sự kiện vừa xảy ra có xâm hại đến lương bổng hay cơ hội tăng tiến của các bạn không. Việc ngưng công việc để tham gia tụ họp có xâm phạm đến tiến độ của doanh nghiệp không.
Với những công chức nhà nước, những phóng viên trong biên chế, công khai chỉ trích chính quyền, công khai vận động tụ họp đông người mà vẫn bảo toàn chức vụ, phải chăng họ được phân công để định hướng quần chúng. Hãy xem mục đích của những người thuộc thành phần này.
Nâng cao nhận thức chính trị là: Phải nhận thức được lợi ích của mỗi chúng ta khi định tham gia vào một sinh hoạt xã hội. Làm gì chúng ta cũng cần phải phân tích lợi hại để không bị những thành phần không rõ ràng lôi kéo để trục lợi từ những thông tin không thể kiểm chứng .
Thursday, June 2, 2011
Kinh tế dầu khí ngoài khơi
Năm ngoái hãng dầu Anh quốc BP rút cổ phần trị giá 1.8 tỷ đô khỏi VN với lý do lấy tiền để bù lỗ cho rủi ro trên vịnh Mexico, nay đến lượt hãng Mỹ Conoco Phillips rao bán toàn bộ cổ phần của họ tại VN giá trị 1.5 tỷ đô của tác giả Thành Trung đăng trên cafef ngày 18/5/2011. Bài viết được đăng trước sự kiện va chạm giữa tàu Bình Minh 02 thuộc Liên doanh PVN - Talisman với Hải quân TQ sau đó một tuần lễ.
Conoco Phillips (COP) là đại gia dầu khí đứng hàng thứ 3 của nước Mỹ. Là đại công ty, việc mua hay bán phần hùn tại các mỏ trên thế giới là chuyện thường. Câu hỏi đặt ra là tại sao COP lại muốn rút phần hùn của họ giữa lúc giá dầu thế giới đang lên. Đối với COP đây có phải là hoạt động bình thường không hay là họ nhận thấy những điều khác thường.
Tác giả Thành Trung viết: Nguyên nhân dẫn đến quyết định của ConocoPhillips là hoạt động kinh doanh của Tập đoàn tại Việt Nam khá hạn chế và họ muốn dồn vốn cho những dự án khác lớn hơn - hết trích. Rủi ro mà những hãng khai thác dầu ngoài khơi gặp phải là:
1. Trữ lượng dầu không đủ đáp ứng chi phí đầu tư
2. Về an ninh bị đe dọa cản trở khai thác
Hai lý do trên không thuyết phục vì, một là Liên doanh TNK-BP do Nga hùn phần lớn ngỏ ý muốn mua lại phần hùn của COP. Hai là ConocoPhillips năm 2010 đóng thuế 46% trên lợi tức 11.4 tỷ đô của họ cho ngân khố Mỹ nên không dễ gì bị đe dọa từ một nơi nào trên địa cầu.
Là doanh nghiệp Mỹ, hẳn COP phải có những thông tin có giá trị cho những quyết định kinh doanh của họ từ Bộ Ngoại giao Mỹ, những giả thiết sau được đặt ra:
1. CP Mỹ quyết định không can thiệp vào tranh chấp Biển Đông nên không điều động lực lượng để bảo vệ quyền lợi Mỹ. Và thực tế xảy ra đúng như vậy, "Mỹ không đứng về bên nào trong một cuộc tranh chấp"
2. Phía Mỹ có thông tin về sự phân chia nguồn tài nguyên Biển Đông giữa VN và TQ. Vị trí địa lý những lô khai thác của COP nay đã thuộc về phía quyền lợi của TQ.
Người ngoài đã đánh giá tình hình và nhẹ nhàng cơ cấu lại. Chúng ta, những người trong cuộc lại sục sôi hùng hục nhắm mắt thiêu thân vào những cuộc tranh giành ngụy tạo mà quyền lợi thực sự của mỗi bên đã được phân chia.
Hãy lo cho kinh tế, đừng nghĩ đến chính trị. Phúc không vạ có.
Conoco Phillips (COP) là đại gia dầu khí đứng hàng thứ 3 của nước Mỹ. Là đại công ty, việc mua hay bán phần hùn tại các mỏ trên thế giới là chuyện thường. Câu hỏi đặt ra là tại sao COP lại muốn rút phần hùn của họ giữa lúc giá dầu thế giới đang lên. Đối với COP đây có phải là hoạt động bình thường không hay là họ nhận thấy những điều khác thường.
Tác giả Thành Trung viết: Nguyên nhân dẫn đến quyết định của ConocoPhillips là hoạt động kinh doanh của Tập đoàn tại Việt Nam khá hạn chế và họ muốn dồn vốn cho những dự án khác lớn hơn - hết trích. Rủi ro mà những hãng khai thác dầu ngoài khơi gặp phải là:
1. Trữ lượng dầu không đủ đáp ứng chi phí đầu tư
2. Về an ninh bị đe dọa cản trở khai thác
Hai lý do trên không thuyết phục vì, một là Liên doanh TNK-BP do Nga hùn phần lớn ngỏ ý muốn mua lại phần hùn của COP. Hai là ConocoPhillips năm 2010 đóng thuế 46% trên lợi tức 11.4 tỷ đô của họ cho ngân khố Mỹ nên không dễ gì bị đe dọa từ một nơi nào trên địa cầu.
Là doanh nghiệp Mỹ, hẳn COP phải có những thông tin có giá trị cho những quyết định kinh doanh của họ từ Bộ Ngoại giao Mỹ, những giả thiết sau được đặt ra:
1. CP Mỹ quyết định không can thiệp vào tranh chấp Biển Đông nên không điều động lực lượng để bảo vệ quyền lợi Mỹ. Và thực tế xảy ra đúng như vậy, "Mỹ không đứng về bên nào trong một cuộc tranh chấp"
2. Phía Mỹ có thông tin về sự phân chia nguồn tài nguyên Biển Đông giữa VN và TQ. Vị trí địa lý những lô khai thác của COP nay đã thuộc về phía quyền lợi của TQ.
Người ngoài đã đánh giá tình hình và nhẹ nhàng cơ cấu lại. Chúng ta, những người trong cuộc lại sục sôi hùng hục nhắm mắt thiêu thân vào những cuộc tranh giành ngụy tạo mà quyền lợi thực sự của mỗi bên đã được phân chia.
Hãy lo cho kinh tế, đừng nghĩ đến chính trị. Phúc không vạ có.
Tuesday, May 31, 2011
Thương mại mật thiết Việt - Trung phát triển bền vững
Tóm tắt thông tin về thương mại Việt - Trung từ khi bình thường hóa quan hệ cho đến nay từ bài báo Choáng ngợp với nhập siêu từ Trung Quốc
Giai đoạn 1996-2000, tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 5,4% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam,
Giai đoạn 2001-2005, tỷ trọng này đã tăng lên 13,4%.
Năm 2008 tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 19,8% tổng kim ngạch
Năm 2009 tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc tăng lên 25% .
Năm 2010 , Việt Nam chi 19.1 tỷ USD để mua hàng nhập khẩu từ TQ, trong khi xuất khẩu đối ứng 6,4 tỷ USD.
4 tháng đầu năm 2011, nhập khẩu từ TQ 7 tỷ đô (tính tròn) , xuất khẩu 2.98 tỷ đô, nhập siêu 4 tỷ đô
Năm 2000, ta đạt thặng dư thương mại với Trung Quốc 135 triệu USD
Năm 2001, thâm hụt trong cán cân thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc 200 triệu USD.
Năm 2007, nhập siêu từ Trung Quốc của Việt Nam là 9,145 tỷ USD, tổng kim ngạch 15 tỷ đô
Năm 2008, đó là con số 11,16 tỷ USD
Năm 2009, con số này đã tăng lên 11,532 tỷ USD,
Năm 2010, nhập siêu từ Trung Quốc đạt 12,7 tỷ USD
Năm 2011 dự tính tăng lên 17 tỷ đô
Những con số trên nói lên:
1. Kim ngạch buôn bán hai chiều năm sau tăng hơn năm trước, bình quân 40%/năm
2. Tỷ trong kim ngạch buôn bán với TQ so với tổng số ngày càng lớn.
3. Đồng thời lượng xuất siêu và tỷ trọng xuất siêu ngày càng lớn
Trong khi tình hình kinh tế trong nước:
1. Lạm phát 19.78% tháng 5/2011
2. Ngân hàng nâng lãi suất nhưng không huy động được như mong muốn lên đẩy lãi suất vượt trần.
3. Thị trường chúng khoán đi xuống mỗi ngày, lãnh đạo các công ty chứng khoán bỏ trốn hoặc từ nhiệm,
4. Thị trường BĐS không tăng trưởng, có dấu hiệu sụt giảm, có nghĩa là luồng vốn chuyển đi ra khỏi thị trường này
Đầu tư nội địa giảm sút trong khi thương mại Việt - Trung tăng trưởng vượt bậc. Có thể phát biểu mà không sợ sai rằng vốn liếng trong nước đã đổ vào thương mại Việt - Trung.
Vậy đồng tiền nào giữ vai trò trao đổi trong thương mại song phương ngoài Yuan của TQ? Một thương gia Việt nhập hàng từ TQ, anh ta phải mang VND đến ngân hàng đổi ra đô la hoặc Yuan, tức là anh ta mua hàng bằng VND, ngoại tệ chỉ là trung gian và ngân hàng làm dịch vụ đổi tiền hưởng phí hối đoái. Có thể bỏ qua vai trò của ngân hàng đổi tiền bằng cách mua hàng từ TQ bằng VND. Được chứ sao không, ở đây vai trò của VND không phải dùng để thanh toán mà chỉ dùng để trao đổi.
Câu hỏi đặt ra là, trong tình trạng nhập siêu, thương nhân TQ xử lý đồng tiền không có giá trị quốc tế là VND như thế nào.
1. Là thành viên chủ chốt của Ngân hàng Phát triển Á châu ADB, nhà thầu TQ tham gia vào thi công các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng của VN. Họ được thanh toán bằng USD từ nguồn ADB nhưng lại chi tiêu tại VN bằng VND.
2. Ngân hàng Nhà nước VN hạn chế giao dịch trong nước bằng đô la và vàng khiến đô la và vàng không có nơi tiêu thụ "rẻ" đi so với giá trị của nó. Những đồng VND thặng dư kia dùng để thu gom lượng đô la và vàng "dư" trên thị trường.
Câu hỏi khác đặt ra là một số nơi nhân dân hết tiền mua gạo như là 94,996 người đói tại Yên Bái, 241,558 người đói gay gắt tại xứ Thanh, hơn 90% số dân trong xã Đa Lộc huyện Hậu Lộc đối mặt với đói. Ai là người tiêu thụ số hàng nhập siêu kể trên.
Nhìn qua bên kia đại dương, nước Mỹ cũng lâm vào cảnh nhập siêu từ TQ năm sau cao hơn năm trước như ta, họ cũng in bạc để bù vào ngân sách như ta. Vừa rồi báo Mỹ vạch trần thủ đoạn của doanh nhân TQ vượt hàng rào thuế quan Hoa Kỳ bằng cách mạo danh hàng hóa chế tạo tại VN.
Kết luận: Thương mại Việt - Trung hôm nay và ngày mai gắn bó chặt chẽ bất chấp những hô hào, khích động mang danh nghĩa bảo vệ Chủ quyền.
Giai đoạn 1996-2000, tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 5,4% tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam,
Giai đoạn 2001-2005, tỷ trọng này đã tăng lên 13,4%.
Năm 2008 tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 19,8% tổng kim ngạch
Năm 2009 tỷ trọng giá trị nhập khẩu từ Trung Quốc tăng lên 25% .
Năm 2010 , Việt Nam chi 19.1 tỷ USD để mua hàng nhập khẩu từ TQ, trong khi xuất khẩu đối ứng 6,4 tỷ USD.
4 tháng đầu năm 2011, nhập khẩu từ TQ 7 tỷ đô (tính tròn) , xuất khẩu 2.98 tỷ đô, nhập siêu 4 tỷ đô
Năm 2000, ta đạt thặng dư thương mại với Trung Quốc 135 triệu USD
Năm 2001, thâm hụt trong cán cân thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc 200 triệu USD.
Năm 2007, nhập siêu từ Trung Quốc của Việt Nam là 9,145 tỷ USD, tổng kim ngạch 15 tỷ đô
Năm 2008, đó là con số 11,16 tỷ USD
Năm 2009, con số này đã tăng lên 11,532 tỷ USD,
Năm 2010, nhập siêu từ Trung Quốc đạt 12,7 tỷ USD
Năm 2011 dự tính tăng lên 17 tỷ đô
Những con số trên nói lên:
1. Kim ngạch buôn bán hai chiều năm sau tăng hơn năm trước, bình quân 40%/năm
2. Tỷ trong kim ngạch buôn bán với TQ so với tổng số ngày càng lớn.
3. Đồng thời lượng xuất siêu và tỷ trọng xuất siêu ngày càng lớn
Trong khi tình hình kinh tế trong nước:
1. Lạm phát 19.78% tháng 5/2011
2. Ngân hàng nâng lãi suất nhưng không huy động được như mong muốn lên đẩy lãi suất vượt trần.
3. Thị trường chúng khoán đi xuống mỗi ngày, lãnh đạo các công ty chứng khoán bỏ trốn hoặc từ nhiệm,
4. Thị trường BĐS không tăng trưởng, có dấu hiệu sụt giảm, có nghĩa là luồng vốn chuyển đi ra khỏi thị trường này
Đầu tư nội địa giảm sút trong khi thương mại Việt - Trung tăng trưởng vượt bậc. Có thể phát biểu mà không sợ sai rằng vốn liếng trong nước đã đổ vào thương mại Việt - Trung.
Vậy đồng tiền nào giữ vai trò trao đổi trong thương mại song phương ngoài Yuan của TQ? Một thương gia Việt nhập hàng từ TQ, anh ta phải mang VND đến ngân hàng đổi ra đô la hoặc Yuan, tức là anh ta mua hàng bằng VND, ngoại tệ chỉ là trung gian và ngân hàng làm dịch vụ đổi tiền hưởng phí hối đoái. Có thể bỏ qua vai trò của ngân hàng đổi tiền bằng cách mua hàng từ TQ bằng VND. Được chứ sao không, ở đây vai trò của VND không phải dùng để thanh toán mà chỉ dùng để trao đổi.
Câu hỏi đặt ra là, trong tình trạng nhập siêu, thương nhân TQ xử lý đồng tiền không có giá trị quốc tế là VND như thế nào.
1. Là thành viên chủ chốt của Ngân hàng Phát triển Á châu ADB, nhà thầu TQ tham gia vào thi công các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng của VN. Họ được thanh toán bằng USD từ nguồn ADB nhưng lại chi tiêu tại VN bằng VND.
2. Ngân hàng Nhà nước VN hạn chế giao dịch trong nước bằng đô la và vàng khiến đô la và vàng không có nơi tiêu thụ "rẻ" đi so với giá trị của nó. Những đồng VND thặng dư kia dùng để thu gom lượng đô la và vàng "dư" trên thị trường.
Câu hỏi khác đặt ra là một số nơi nhân dân hết tiền mua gạo như là 94,996 người đói tại Yên Bái, 241,558 người đói gay gắt tại xứ Thanh, hơn 90% số dân trong xã Đa Lộc huyện Hậu Lộc đối mặt với đói. Ai là người tiêu thụ số hàng nhập siêu kể trên.
Nhìn qua bên kia đại dương, nước Mỹ cũng lâm vào cảnh nhập siêu từ TQ năm sau cao hơn năm trước như ta, họ cũng in bạc để bù vào ngân sách như ta. Vừa rồi báo Mỹ vạch trần thủ đoạn của doanh nhân TQ vượt hàng rào thuế quan Hoa Kỳ bằng cách mạo danh hàng hóa chế tạo tại VN.
Kết luận: Thương mại Việt - Trung hôm nay và ngày mai gắn bó chặt chẽ bất chấp những hô hào, khích động mang danh nghĩa bảo vệ Chủ quyền.
Sunday, May 29, 2011
Định hướng kinh tế đang được thay đổi
Mấy ngày gần đây, tin tức kinh tế trái chiều dồn dập.
Chứng khoán đổ dốc cả chục phiên mất gần trăm điểm, bỗng nhiên tăng 3-4% liên tiếp 2 phiên, trong khi khối ngoại bán ròng, ngày 26/5 là bước ngoặt.
Mới hôm trước còn nói nguy cơ giải chấp, nợ xấu các ngân hàng gia tăng hôm sau im bặt
Giám đốc, Chủ tịch ôm bạc trăm tỷ ... biến mất
"Tin đồn" ông chủ ngân hàng Phương Nam bỏ trốn
Lãi suất qua đêm giảm, lãi suất cho vay có dấu hiệu giảm
Giới tài chính nước ngoài dọn đường: VN sẽ phá giá tiền đồng nay mai
Vậy chuyện gì đang diễn ra sau lưng chúng ta vậy?
Trong điều kiện ngân hàng lãi to năm ngoái và lãi cũng không kém trong năm nay, nhưng luôn luôn thiếu tiền phải nâng lãi suất huy động. Trong khi các doanh nghiệp sản xuất thiếu vốn, giảm sản lượng dẫn tới giá tăng hoặc phải được "bình ổn". Với thực trạng như thế ngân hàng có đồng nào phải lập tức cho vay ngay để kiếm lời nên không dự trữ nhiều tiền mặt. Cái mà ngân hàng sở hữu nhiều nhất lại là các "giấy tờ có giá", mà một trong những thứ đó là chứng khoán.
Chính sách siết chặt tiền tệ đã đi đến cuối con đường của nó. Một ngân hàng mất thanh khoản sẽ là hiệu ứng đô mi nô ảnh hưởng lên các ngân hàng khác làm mất tác dụng của chính sách chống lạm phát. Giả pháp khả thi là ngân hàng nhà nước lặng lẽ bơm vốn vào khâu yếu nhất tức là thị trường chứng khoán. Các tổ chức tài chính nước ngoài đánh hơi được điều này nên kín đáo cảnh báo NHNN sẽ phá giá tiền đồng lần nữa. Giá xăng tăng sẽ là dấu hiệu.
Kết luận: người ta đang biến Nghị quyết 11 với chủ trương Thắt chặt tiền tệ trở thành NỚI LỎNG TIỀN TỆ.
Chứng khoán đổ dốc cả chục phiên mất gần trăm điểm, bỗng nhiên tăng 3-4% liên tiếp 2 phiên, trong khi khối ngoại bán ròng, ngày 26/5 là bước ngoặt.
Mới hôm trước còn nói nguy cơ giải chấp, nợ xấu các ngân hàng gia tăng hôm sau im bặt
Giám đốc, Chủ tịch ôm bạc trăm tỷ ... biến mất
"Tin đồn" ông chủ ngân hàng Phương Nam bỏ trốn
Lãi suất qua đêm giảm, lãi suất cho vay có dấu hiệu giảm
Giới tài chính nước ngoài dọn đường: VN sẽ phá giá tiền đồng nay mai
Vậy chuyện gì đang diễn ra sau lưng chúng ta vậy?
Trong điều kiện ngân hàng lãi to năm ngoái và lãi cũng không kém trong năm nay, nhưng luôn luôn thiếu tiền phải nâng lãi suất huy động. Trong khi các doanh nghiệp sản xuất thiếu vốn, giảm sản lượng dẫn tới giá tăng hoặc phải được "bình ổn". Với thực trạng như thế ngân hàng có đồng nào phải lập tức cho vay ngay để kiếm lời nên không dự trữ nhiều tiền mặt. Cái mà ngân hàng sở hữu nhiều nhất lại là các "giấy tờ có giá", mà một trong những thứ đó là chứng khoán.
Chính sách siết chặt tiền tệ đã đi đến cuối con đường của nó. Một ngân hàng mất thanh khoản sẽ là hiệu ứng đô mi nô ảnh hưởng lên các ngân hàng khác làm mất tác dụng của chính sách chống lạm phát. Giả pháp khả thi là ngân hàng nhà nước lặng lẽ bơm vốn vào khâu yếu nhất tức là thị trường chứng khoán. Các tổ chức tài chính nước ngoài đánh hơi được điều này nên kín đáo cảnh báo NHNN sẽ phá giá tiền đồng lần nữa. Giá xăng tăng sẽ là dấu hiệu.
Kết luận: người ta đang biến Nghị quyết 11 với chủ trương Thắt chặt tiền tệ trở thành NỚI LỎNG TIỀN TỆ.
Vinashin và Petro Vietnam, ai thắng ai
Tin nổi bật ngày 27 tháng 5 năm 2011, huy động toàn bộ hệ thống chính trị lên án sự kiện 3 tàu chiến của TQ phá hoại thiết bị và đe dọa tàu thăm dò Bình Minh 02 của Petro Vietnam (viết tắt là PVN) vào lúc 5:30 sáng ngày 26/5/2011 trong vùng biển cách bờ biển Phú Yên 120 dặm (xin lỗi độc giả vì một câu quá dài).
Những bài viết đanh thép tố cáo TQ vi phạm nghiêm trọng chủ quyền tại điểm cách bờ 116 dặm. Đường cơ sở ven bờ lục địa mà những bài báo đó dẫn chứng chỉ bao gồm Mũi Đại Lãnh và 10 đảo ven bờ như Lý Sơn (Quảng Ngãi), Hòn Nhạn (Kiên Giang), Hòn Đá Lẻ (Cà Mau), Cồn Cỏ (Quảng Trị). Còn những đảo và quần đảo khác không thấy nhắc tới như thể khẳng định phía bạn toàn quyền hành động bên ngoài giới hạn 200 dặm.
Về mặt thiệt hại kinh tế, sự gián đoạn công việc đã được tiếp tục một ngày sau đó, chi phí phục hồi đoạn cáp cảm biến mà phía bạn làm đứt không lớn, tất nhiên là không nhiều đến mức 60 triệu đô. Về căn bản ta không có khả năng ứng chiến với lý do chủ yếu là ta không có tàu đủ sức đáp ứng với tàu bạn. Việc đóng tàu chiến để bảo vệ quyền lợi trên biển lại nằm trong tầm tay của Vinashin, cho thấy vai trò quả đấm thép của tập đoàn này về an ninh quốc phòng.
Cũng như Vinashin, PVN là một tập đoàn kinh tế nhà nước, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Về nguyên tắc lẽ ra cả hai được sự quan tâm như nhau, nhưng trên thực tế lại khác.
Vinashin được sự bảo lãnh của chính phủ, đã vay của nước ngoài số vốn quy nợ 600 triệu đô cam kết trả dần trong 10 kỳ mỗi kỳ 60 triệu đô. Đến kỳ trả nợ đầu tiên 20/12/2010, Vinashin với tư cách là một con nợ đã khước từ. Bên cạnh đó chính phủ làm ngơ không can thiệp, cho rằng đây là vấn đề doanh nghiệp tự chủ giải quyết.
Sao lại bên trọng bên khinh như thế. Cùng là tập đoàn kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, Vinashin lẽ ra phải được hệ thống chính trị hậu thuẫn tương đương. Việc chính phủ có thái độ ứng xử rất khác nhau đối với 2 tập đoàn đã có tác dụng xấu:
1. Không tranh thủ được sự ủng hộ của dư luận quốc tế. Không được các hãng thông tấn lớn trên thế giới đưa tin sự kiện trên,
2. Quần chúng không biết giới hạn lãnh hải của ta đến đâu để mà đấu tranh bảo vệ chủ quyền,
3. Nhà đầu tư hoang mang không biết nên tiếp giữ cổ phiếu Vinashin hay PVN.
***
Chính ông Phó Tổng PVN thừa nhận chuyện "cắt cáp" đã diễn ra nhiều lần.
Những bài viết đanh thép tố cáo TQ vi phạm nghiêm trọng chủ quyền tại điểm cách bờ 116 dặm. Đường cơ sở ven bờ lục địa mà những bài báo đó dẫn chứng chỉ bao gồm Mũi Đại Lãnh và 10 đảo ven bờ như Lý Sơn (Quảng Ngãi), Hòn Nhạn (Kiên Giang), Hòn Đá Lẻ (Cà Mau), Cồn Cỏ (Quảng Trị). Còn những đảo và quần đảo khác không thấy nhắc tới như thể khẳng định phía bạn toàn quyền hành động bên ngoài giới hạn 200 dặm.
Về mặt thiệt hại kinh tế, sự gián đoạn công việc đã được tiếp tục một ngày sau đó, chi phí phục hồi đoạn cáp cảm biến mà phía bạn làm đứt không lớn, tất nhiên là không nhiều đến mức 60 triệu đô. Về căn bản ta không có khả năng ứng chiến với lý do chủ yếu là ta không có tàu đủ sức đáp ứng với tàu bạn. Việc đóng tàu chiến để bảo vệ quyền lợi trên biển lại nằm trong tầm tay của Vinashin, cho thấy vai trò quả đấm thép của tập đoàn này về an ninh quốc phòng.
Cũng như Vinashin, PVN là một tập đoàn kinh tế nhà nước, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN. Về nguyên tắc lẽ ra cả hai được sự quan tâm như nhau, nhưng trên thực tế lại khác.
Vinashin được sự bảo lãnh của chính phủ, đã vay của nước ngoài số vốn quy nợ 600 triệu đô cam kết trả dần trong 10 kỳ mỗi kỳ 60 triệu đô. Đến kỳ trả nợ đầu tiên 20/12/2010, Vinashin với tư cách là một con nợ đã khước từ. Bên cạnh đó chính phủ làm ngơ không can thiệp, cho rằng đây là vấn đề doanh nghiệp tự chủ giải quyết.
Sao lại bên trọng bên khinh như thế. Cùng là tập đoàn kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, Vinashin lẽ ra phải được hệ thống chính trị hậu thuẫn tương đương. Việc chính phủ có thái độ ứng xử rất khác nhau đối với 2 tập đoàn đã có tác dụng xấu:
1. Không tranh thủ được sự ủng hộ của dư luận quốc tế. Không được các hãng thông tấn lớn trên thế giới đưa tin sự kiện trên,
2. Quần chúng không biết giới hạn lãnh hải của ta đến đâu để mà đấu tranh bảo vệ chủ quyền,
3. Nhà đầu tư hoang mang không biết nên tiếp giữ cổ phiếu Vinashin hay PVN.
***
Chính ông Phó Tổng PVN thừa nhận chuyện "cắt cáp" đã diễn ra nhiều lần.
Saturday, May 28, 2011
Người may mắn trong vụ chìm nhà hàng Dìn Ký?
Xin chia buồn và cầu mong hương hồn của 16 nạn nhân siêu thoát.
Vụ chìm nhà hàng Dìn Ký tạm thời quy lỗi thuộc về mấy người: Tài công (không bằng) và quản lý nhà hàng. Ngoài ra còn đề cập đến những kẻ liên đới xa lắc đó là chính quyền địa phương. Do việc quy lỗi cho chính quyền địa phương là một việc làm rất vu vơ, nên đối tượng này không bàn tiếp ở đây.
Nhà hàng nổi Dìn Ký vốn là một chiếc ghe - loại đáy nhọn - chức năng đi đường dài, được cải tạo cơi nới làm nhà hàng. Theo thông tin báo đăng thân ghe rộng 4.6m - được hiểu là chỗ rộng nhất của ghe. Phần nhà hàng 2 tầng, mỗi tầng có trang tí ốp trần, chiều cao mỗi tầng 3m, sàn tầng trệt cách mớn nước 2m. Vị chi từ mặt nước đến nóc tầng trên có chiều cao 8m, với chiều cao xem như gấp đôi chiều ngang, nhà hàng - ghe này lật là một tương lai chắc chắn.
Ta lần lượt xét từng người liên đới tới chiếc ghe - nhà hàng định mệnh này.
Anh tài công, theo giới thiệu của ông chủ Dìn Ký là "dù không có bằng lái nhưng là một lái tàu giỏi, có nhiều kinh nghiệm", suy rộng ra anh này mà có bằng lái thì không có chỗ cho Phạm Tuân. Dám ôm vô lăng khi chưa có bằng, phạm pháp mười mươi rồi, không oan.
Theo bản tin của VTC đã loan, ngoài tài công còn có 2 anh với chức danh 1. quản lý nhà hàng và 2. quản lý tàu du lịch, tạm gọi anh thứ hai này là trưởng tàu (ghe). Chưa có dịp tìm hiểu kỹ, người viết tạm hiểu anh trưởng tàu không kiểm soát quá tải, không bắt buộc khách mặc áo phao trong khi ăn tiệc, tức là không làm tròn trách nhiệm của một anh chủ đò. Còn lại anh quản lý nhà hàng vi phạm điều gì, người viết không nghĩ ra.
Tuy không bị khởi tố, nhưng liên quan tới cái nhà hàng nổi này là một người rất quan trọng mà báo chí tránh né nhắc tới, đó là ông chủ Dìn Ký. Ông chủ Dìn Ký liên quan gì? Quả là câu hỏi ngớ ngẩn, câu hỏi mà bản thân câu hỏi đã là câu trả lời: ông chủ.
Là chủ hệ thống nhà hàng Dìn Ký, chủ hệ thống Dìn Ký Bình Dương, lẽ dĩ nhiên ông phải là ông chủ của nhà hàng nổi cùng tên Dìn Ký. Là chủ một nhà hàng nổi - phương tiện kinh doanh có lãi, ông có những mối liên hệ về lợi ích như sau:
1. Là người đề ra ý tưởng hay ít ra là người chấp thuận ý tưởng cơi nới một con đò ọp ẹp thành một nhà hàng sang trọng. Một nhà hàng giống như vậy của chủ nhân khác sẽ được dư luận cho là "Chôm ý tưởng của Dìn Ký",
2. Ông là chủ sở hữu, là người có quyền định đoạt việc tuyển dụng và khai thác nhân sự phục vụ nhà hàng,
3. Ông là người nắm trọn vẹn lợi nhuận phát sinh từ nhà hàng nổi, không chia sẻ với ai,
Theo quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ được pháp luật hiện hành bảo hộ, ông chủ nhà hàng nổi Dìn Ký phải chịu những trách nhiệm sau:
1. Là người khai sinh, ông phải có trách nhiệm khai tử nó,
2. Nhân viên phục vụ nhà hàng không tuân lệnh ông, sẽ bị sa thải. Họ không có con đường nào khác phó thác cho sự may mắn và luôn luôn cảnh giác đề phòng với con đò ọp ẹp. Bằng chứng là khi tai nạn xảy ra, nhân viên bỏ nhiệm vụ, và toàn bộ đã thoát hiểm thành công.
3. Tiền lãi ông bỏ túi, lao lý người làm công lãnh.
Tình tiết tăng nặng: ông mướn nhân viên tạp vụ (có thể hiểu là người chỉ có thể làm những việc phổ thông như lau bàn ghế và rửa chén), tiền công lái không phải trả, ông hưởng lãi ròng từ tiền lương vị trí tài công. Một người chủ bình thường mướn tài xế không bằng khi tai nạn xảy ra chủ xe hoàn toàn chịu trách nhiệm vì đã trao tay lái cho người mà mình biết chắc chưa được luật pháp công nhận. Báo chí rất khéo léo nhắc đến chi tiết anh trưởng tàu là người điều động anh tạp vụ cầm vô lăng.
Tình lý như vậy, cho đến nay ông vẫn vô can. Quả thật ông là người may mắn, chúc mừng Lucky Dìn.
Vụ chìm nhà hàng Dìn Ký tạm thời quy lỗi thuộc về mấy người: Tài công (không bằng) và quản lý nhà hàng. Ngoài ra còn đề cập đến những kẻ liên đới xa lắc đó là chính quyền địa phương. Do việc quy lỗi cho chính quyền địa phương là một việc làm rất vu vơ, nên đối tượng này không bàn tiếp ở đây.
Nhà hàng nổi Dìn Ký vốn là một chiếc ghe - loại đáy nhọn - chức năng đi đường dài, được cải tạo cơi nới làm nhà hàng. Theo thông tin báo đăng thân ghe rộng 4.6m - được hiểu là chỗ rộng nhất của ghe. Phần nhà hàng 2 tầng, mỗi tầng có trang tí ốp trần, chiều cao mỗi tầng 3m, sàn tầng trệt cách mớn nước 2m. Vị chi từ mặt nước đến nóc tầng trên có chiều cao 8m, với chiều cao xem như gấp đôi chiều ngang, nhà hàng - ghe này lật là một tương lai chắc chắn.
Ta lần lượt xét từng người liên đới tới chiếc ghe - nhà hàng định mệnh này.
Anh tài công, theo giới thiệu của ông chủ Dìn Ký là "dù không có bằng lái nhưng là một lái tàu giỏi, có nhiều kinh nghiệm", suy rộng ra anh này mà có bằng lái thì không có chỗ cho Phạm Tuân. Dám ôm vô lăng khi chưa có bằng, phạm pháp mười mươi rồi, không oan.
Theo bản tin của VTC đã loan, ngoài tài công còn có 2 anh với chức danh 1. quản lý nhà hàng và 2. quản lý tàu du lịch, tạm gọi anh thứ hai này là trưởng tàu (ghe). Chưa có dịp tìm hiểu kỹ, người viết tạm hiểu anh trưởng tàu không kiểm soát quá tải, không bắt buộc khách mặc áo phao trong khi ăn tiệc, tức là không làm tròn trách nhiệm của một anh chủ đò. Còn lại anh quản lý nhà hàng vi phạm điều gì, người viết không nghĩ ra.
Tuy không bị khởi tố, nhưng liên quan tới cái nhà hàng nổi này là một người rất quan trọng mà báo chí tránh né nhắc tới, đó là ông chủ Dìn Ký. Ông chủ Dìn Ký liên quan gì? Quả là câu hỏi ngớ ngẩn, câu hỏi mà bản thân câu hỏi đã là câu trả lời: ông chủ.
Là chủ hệ thống nhà hàng Dìn Ký, chủ hệ thống Dìn Ký Bình Dương, lẽ dĩ nhiên ông phải là ông chủ của nhà hàng nổi cùng tên Dìn Ký. Là chủ một nhà hàng nổi - phương tiện kinh doanh có lãi, ông có những mối liên hệ về lợi ích như sau:
1. Là người đề ra ý tưởng hay ít ra là người chấp thuận ý tưởng cơi nới một con đò ọp ẹp thành một nhà hàng sang trọng. Một nhà hàng giống như vậy của chủ nhân khác sẽ được dư luận cho là "Chôm ý tưởng của Dìn Ký",
2. Ông là chủ sở hữu, là người có quyền định đoạt việc tuyển dụng và khai thác nhân sự phục vụ nhà hàng,
3. Ông là người nắm trọn vẹn lợi nhuận phát sinh từ nhà hàng nổi, không chia sẻ với ai,
Theo quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ được pháp luật hiện hành bảo hộ, ông chủ nhà hàng nổi Dìn Ký phải chịu những trách nhiệm sau:
1. Là người khai sinh, ông phải có trách nhiệm khai tử nó,
2. Nhân viên phục vụ nhà hàng không tuân lệnh ông, sẽ bị sa thải. Họ không có con đường nào khác phó thác cho sự may mắn và luôn luôn cảnh giác đề phòng với con đò ọp ẹp. Bằng chứng là khi tai nạn xảy ra, nhân viên bỏ nhiệm vụ, và toàn bộ đã thoát hiểm thành công.
3. Tiền lãi ông bỏ túi, lao lý người làm công lãnh.
Tình tiết tăng nặng: ông mướn nhân viên tạp vụ (có thể hiểu là người chỉ có thể làm những việc phổ thông như lau bàn ghế và rửa chén), tiền công lái không phải trả, ông hưởng lãi ròng từ tiền lương vị trí tài công. Một người chủ bình thường mướn tài xế không bằng khi tai nạn xảy ra chủ xe hoàn toàn chịu trách nhiệm vì đã trao tay lái cho người mà mình biết chắc chưa được luật pháp công nhận. Báo chí rất khéo léo nhắc đến chi tiết anh trưởng tàu là người điều động anh tạp vụ cầm vô lăng.
Tình lý như vậy, cho đến nay ông vẫn vô can. Quả thật ông là người may mắn, chúc mừng Lucky Dìn.
Friday, May 27, 2011
Ngân hàng đang tiến về phía trước
Năm 2010 đầy khó khăn cho các doanh nghiệp. Riêng các ngân hàng lại lãi to, lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng lần lượt là:
VietcomBank 5.5 ngàn tỉ đồng,
VietinBank 4.5 ngàn tỉ đồng,
Ngân hàng ACB 3.1 ngàn tỷ đồng,
Techcombank 3.0 ngàn tỷ đồng,
Sacombank 2.4 ngàn tỉ đồng,
Eximbank 2.4 ngàn tỉ đồng,
NH Quân đội 2.1 ngàn tỉ đồng,
Maritime Bank 1.7 tỉ đồng,
NH Liên Việt trên 800 tỉ đồng,
NH Đại Dương (OceanBank) 691 tỉ đồng,
NH An Bình 638 tỉ đồng,
HD Bank hơn 300 tỉ đồng,
SHB hơn 600 tỉ đồng,
NH Đại Tín 302 tỉ đồng
(Để độc giả dễ hình dung, tạm tính 100 tỷ đồng tương đương 5 triệu đô la Mỹ, 1 tỷ (*) đồng tương đương 50 triệu đô la Mỹ)
Theo các chuyên gia ngành ngân hàng, trong năm 2010 lợi thế của các NH quốc doanh là nắm nhiều giấy tờ có giá. Nhờ loại tài sản nhẹ mà có giá trị cao này ngân hàng thương mại dùng nó thế chấp để vay vốn của NH Nhà nước với giá rẻ, sau đó cho vay lại trên thị trường liên NH theo lãi suất qua đêm thỏa thuận. Một đầu ra trọng điểm trong năm 2010 là Đại lễ 1000 năm Thăng Long, các nhà thầu tự ứng vốn sau đại lễ sẽ được thanh toán từ ngân sách.
Trên đây là những nét phác họa bức tranh xán lạn của ngành ngân hàng VN vào năm ngoái, khi mà lãi suất còn ở mức thấp. Năm nay, với nguồn lực dồi dào được tích lũy từ năm ngoái cộng với lãi suất cao không thể tưởng tượng hiện nay, cùng với cơn khát vốn không dứt của BĐS và chứng khoán, hứa hẹn ngành ngân hàng thu được thành quả vượt bực, góp phần hoàn thành tốt chỉ tiêu tăng trưởng GDP mà chính phủ đề ra.
* Xin đọc lại là 1 ngàn tỷ đồng (lỗi do tớ đánh máy)
VietcomBank 5.5 ngàn tỉ đồng,
VietinBank 4.5 ngàn tỉ đồng,
Ngân hàng ACB 3.1 ngàn tỷ đồng,
Techcombank 3.0 ngàn tỷ đồng,
Sacombank 2.4 ngàn tỉ đồng,
Eximbank 2.4 ngàn tỉ đồng,
NH Quân đội 2.1 ngàn tỉ đồng,
Maritime Bank 1.7 tỉ đồng,
NH Liên Việt trên 800 tỉ đồng,
NH Đại Dương (OceanBank) 691 tỉ đồng,
NH An Bình 638 tỉ đồng,
HD Bank hơn 300 tỉ đồng,
SHB hơn 600 tỉ đồng,
NH Đại Tín 302 tỉ đồng
(Để độc giả dễ hình dung, tạm tính 100 tỷ đồng tương đương 5 triệu đô la Mỹ, 1 tỷ (*) đồng tương đương 50 triệu đô la Mỹ)
Theo các chuyên gia ngành ngân hàng, trong năm 2010 lợi thế của các NH quốc doanh là nắm nhiều giấy tờ có giá. Nhờ loại tài sản nhẹ mà có giá trị cao này ngân hàng thương mại dùng nó thế chấp để vay vốn của NH Nhà nước với giá rẻ, sau đó cho vay lại trên thị trường liên NH theo lãi suất qua đêm thỏa thuận. Một đầu ra trọng điểm trong năm 2010 là Đại lễ 1000 năm Thăng Long, các nhà thầu tự ứng vốn sau đại lễ sẽ được thanh toán từ ngân sách.
Trên đây là những nét phác họa bức tranh xán lạn của ngành ngân hàng VN vào năm ngoái, khi mà lãi suất còn ở mức thấp. Năm nay, với nguồn lực dồi dào được tích lũy từ năm ngoái cộng với lãi suất cao không thể tưởng tượng hiện nay, cùng với cơn khát vốn không dứt của BĐS và chứng khoán, hứa hẹn ngành ngân hàng thu được thành quả vượt bực, góp phần hoàn thành tốt chỉ tiêu tăng trưởng GDP mà chính phủ đề ra.
* Xin đọc lại là 1 ngàn tỷ đồng (lỗi do tớ đánh máy)
Thursday, May 26, 2011
Thông tư 20 đóng góp tích cực cho ngân sách
Các doanh nghiệp tư nhân buôn bán ô tô nhập khẩu tiểu ngạch hùn hạp với nhau cùng khiếu nại lên bộ Công thương với danh nghĩa kiến nghị sửa đổi Nội dung một văn bản điều chỉnh phương thức nhập ô tô nguyên chiếc. Văn bản đó là Thông tư 20/2011 TT-BCT gọi tắt là Thông tư 20 hay TT20. Báo chí trong nước cho rằng TT20 nhằm giảm nhập siêu, chống lạm phát, thực hành nghị quyết 11. Tất cả họ nhầm, quyết định của bộ Công thương không nhằm giảm nhập siêu mà chỉ là gom việc nhập ô tô vào một số ít đầu mối thống nhất, chống thất thu thuế.
Nội dung thông tư 20 có gì mới làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các nhà buôn tiểu ngạch, chúng ta cùng tìm hiểu cơ cấu giá thành một chiếc ô tô nhập khẩu. Để thành một chiếc xe thương phẩm cái gọi là car từ nước ngoài phải đóng 3 thứ thuế sau:
1. Thuế nhập khẩu 82%
2. Thuế Tiêu thụ đặc biệt 50%
3. Thuế VAT 10%
(ghi chú: thuế suất trên là minh họa và không khác mấy với thực tế.)
Theo biểu thuế trên, mỗi đơn vị mua từ nhà cung cấp nước ngoài, người mua xe để sử dụng phải đóng 2 đơn vị tiền thuế mới đủ điều kiện để mang xe đi đăng ký lưu hành. Hoặc nói ngắn gọn là giá xe ô tô ở VN gấp 3 lần giá xe bên Mỹ quốc.
Kỹ thuật để tạo ra chiếc xe giá gấp 3 lần nước ngoài, bộ Tài chính đã co kéo các con số thuế suất để sao cho tổng số thuế gấp 2 lần giá bán. Nếu chỉ quan tâm đến thuế so với giá bán thì các thuế suất kia lần lượt là:
1. Thuế nhập khẩu 82%
2. Thuế Tiêu thụ đặc biệt 91%
3. Thuế VAT 27.3%
Cộng: 200.3%
Kinh tế học chỉ ra rằng lạm phát là do chi vượt quá thu nên phải NHNN phải in tiền chi tiêu gây nên lạm phát. Mặt khác chính đồng chí cựu Thống đốc NHNN đã phân tích tuy VN nhập siêu nhưng cán cân ngoại tệ vẫn cân bằng, thực tế dòng ngoại tệ đi vào lớn hơn dòng ngoại tệ đi ra. Trong khi mỗi chiếc ô tô nhập khẩu đem lại cho ngân sách tiền thuế tương đương 2 chiếc ô tô. Phân tích trên đây để chỉ ra rằng, việc nhập ô tô không những không gây ra lạm phát mà trái lại còn bình ổn ngân sách, giúp ngân sách dư tiền để tài trợ cho các tập đoàn kinh tế chủ đạo.
Phân tích giá thành một chiếc xe Toyota Venza, một loại xe phổ thông, tính bằng đơn vị đô la
Giá mua từ nhà cung cấp: $24,000 (lấy tròn)
Thuế nhập khẩu: $19,680
Thuế Tiêu thụ đặc biệt: $21,840
Thuế Giá trị gia tăng: $6,552
Cộng giá thành: $72,072
Trong các khoản, Thuế nhập khẩu $19,680 phải nộp cho Hải quan để làm thủ tục thông quan, đây là điều kiện tiên quyết. Hai khoản còn lại là thuế TTDB và VAT tổng cộng $28,392 do nhà bán lẻ nộp vào cuối kỳ quyết toán thuế. Như vậy là chỉ có khoản $19,680 chắc chắn được nộp vào ngân sách, khoản $28,392 thu về ngân sách không tương ứng với khoản thuế nhập và số lượng xe đã lăn bánh. Về phía người mua xe, phải trả hết một lần - hiện đang chào bán giá $72,500 - mới được đem xe về để đăng ký.
Nguyên nhân thất thu là, lợi dụng kẽ hở này, gần đây có hiện tượng các salon bán lẻ ô tô sau khi bán hết xe rồi tuyên bố lỗ, đóng cửa doanh nghiệp. Họ thu tiền chiếc xe đã bao hàm đầy đủ các sắc thuế trong đó và đóng cửa ôm theo toàn bộ số tiền thuế TTDB và thuế VAT mà lẽ ra họ phải đóng. Số tiền này không nhỏ bằng 118.3% giá gốc của chiếc xe, chiếm 40% giá bán chiếc xe tại VN.
Để chống lại thủ đoạn này của gian thương, bộ Công thương đã ra thông tư 20 quy định việc nhập khẩu ô tô về các đầu mối, các hình thức nhập tiểu ngạch khác được xem là bất hợp pháp. Thông tư 20 không ảnh hưởng tới lợi ích của người mua xe. Ta thành công trong việc điều hành nhập xăng dầu thì sẽ thành công trong việc nhập ô tô.
Chính quyền của ta là chính quyền của Dân , do Dân và vì Dân. Chúng ta hãy vì lợi ích của người mua xe và vì lợi ích của Ngân sách hãy kiên quyết chống mọi hành vi gian lận thương mại thông qua nhập khẩu ô tô tiểu ngạch.
Nội dung thông tư 20 có gì mới làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các nhà buôn tiểu ngạch, chúng ta cùng tìm hiểu cơ cấu giá thành một chiếc ô tô nhập khẩu. Để thành một chiếc xe thương phẩm cái gọi là car từ nước ngoài phải đóng 3 thứ thuế sau:
1. Thuế nhập khẩu 82%
2. Thuế Tiêu thụ đặc biệt 50%
3. Thuế VAT 10%
(ghi chú: thuế suất trên là minh họa và không khác mấy với thực tế.)
Theo biểu thuế trên, mỗi đơn vị mua từ nhà cung cấp nước ngoài, người mua xe để sử dụng phải đóng 2 đơn vị tiền thuế mới đủ điều kiện để mang xe đi đăng ký lưu hành. Hoặc nói ngắn gọn là giá xe ô tô ở VN gấp 3 lần giá xe bên Mỹ quốc.
Kỹ thuật để tạo ra chiếc xe giá gấp 3 lần nước ngoài, bộ Tài chính đã co kéo các con số thuế suất để sao cho tổng số thuế gấp 2 lần giá bán. Nếu chỉ quan tâm đến thuế so với giá bán thì các thuế suất kia lần lượt là:
1. Thuế nhập khẩu 82%
2. Thuế Tiêu thụ đặc biệt 91%
3. Thuế VAT 27.3%
Cộng: 200.3%
Kinh tế học chỉ ra rằng lạm phát là do chi vượt quá thu nên phải NHNN phải in tiền chi tiêu gây nên lạm phát. Mặt khác chính đồng chí cựu Thống đốc NHNN đã phân tích tuy VN nhập siêu nhưng cán cân ngoại tệ vẫn cân bằng, thực tế dòng ngoại tệ đi vào lớn hơn dòng ngoại tệ đi ra. Trong khi mỗi chiếc ô tô nhập khẩu đem lại cho ngân sách tiền thuế tương đương 2 chiếc ô tô. Phân tích trên đây để chỉ ra rằng, việc nhập ô tô không những không gây ra lạm phát mà trái lại còn bình ổn ngân sách, giúp ngân sách dư tiền để tài trợ cho các tập đoàn kinh tế chủ đạo.
Phân tích giá thành một chiếc xe Toyota Venza, một loại xe phổ thông, tính bằng đơn vị đô la
Giá mua từ nhà cung cấp: $24,000 (lấy tròn)
Thuế nhập khẩu: $19,680
Thuế Tiêu thụ đặc biệt: $21,840
Thuế Giá trị gia tăng: $6,552
Cộng giá thành: $72,072
Trong các khoản, Thuế nhập khẩu $19,680 phải nộp cho Hải quan để làm thủ tục thông quan, đây là điều kiện tiên quyết. Hai khoản còn lại là thuế TTDB và VAT tổng cộng $28,392 do nhà bán lẻ nộp vào cuối kỳ quyết toán thuế. Như vậy là chỉ có khoản $19,680 chắc chắn được nộp vào ngân sách, khoản $28,392 thu về ngân sách không tương ứng với khoản thuế nhập và số lượng xe đã lăn bánh. Về phía người mua xe, phải trả hết một lần - hiện đang chào bán giá $72,500 - mới được đem xe về để đăng ký.
Nguyên nhân thất thu là, lợi dụng kẽ hở này, gần đây có hiện tượng các salon bán lẻ ô tô sau khi bán hết xe rồi tuyên bố lỗ, đóng cửa doanh nghiệp. Họ thu tiền chiếc xe đã bao hàm đầy đủ các sắc thuế trong đó và đóng cửa ôm theo toàn bộ số tiền thuế TTDB và thuế VAT mà lẽ ra họ phải đóng. Số tiền này không nhỏ bằng 118.3% giá gốc của chiếc xe, chiếm 40% giá bán chiếc xe tại VN.
Để chống lại thủ đoạn này của gian thương, bộ Công thương đã ra thông tư 20 quy định việc nhập khẩu ô tô về các đầu mối, các hình thức nhập tiểu ngạch khác được xem là bất hợp pháp. Thông tư 20 không ảnh hưởng tới lợi ích của người mua xe. Ta thành công trong việc điều hành nhập xăng dầu thì sẽ thành công trong việc nhập ô tô.
Chính quyền của ta là chính quyền của Dân , do Dân và vì Dân. Chúng ta hãy vì lợi ích của người mua xe và vì lợi ích của Ngân sách hãy kiên quyết chống mọi hành vi gian lận thương mại thông qua nhập khẩu ô tô tiểu ngạch.
Wednesday, May 25, 2011
Thị trường Chứng khoán Việt chưa lớn đã già
Lẽ ra giữa thời lạm phát hai con số, chứng khoán phải được các nhà đầu tư nhỏ lẻ quan tâm mới phải. Do mua trước bán sau nên hoạt động sản xuất kinh doanh không những không bị thiệt hại bởi lạm phát mà còn có cơ hội kiếm lời từ lạm phát. Thực tế, từ tay to cho đến các nhà đầu tư cò con đều muốn rút vốn ra khỏi thị trường để gửi tiết kiệm với lãi suất cao ngất ngưởng được mời mọc từ ngân hàng. Giống như dòng vốn đưa vào khi thị trường lên, nay dòng vốn rút ra khỏi thị trường đang gặp nhiều ách tắc từ những quy định, mà những quy định đó nhằm hạn chế sự xuống dốc của thị trường.
TTCK Việt Nam 11 năm tuổi, mà không lớn. Với những quy định cứng nhắc như là biên độ, T+4, cấm hedge nhằm tích lũy doanh thu cũng như lợi nhuận cho các công ty chứng khoán trong buổi đầu thị trường non trẻ. Sau một thời gian ngắn được UBCKNN nâng đỡ, các công ty chứng khoán, với con chim đầu đàn là Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) đã mau chóng tích lũy lợi nhuận thành những con khủng long, tranh mua tranh bán với các nhà đầu tư, chiếm một tỷ trọng lớn trong sức Cầu của thị trường. Những lúc thị trường đi lên, tuần tự như tiến chỉ số thị trường tăng điểm ngày nào cũng như ngày ấy một tỷ lệ nhỏ hơn biên độ 5% một chút xíu. Những khi bảng điện tử rực rỡ một màu xanh, quyền mua lại ưu tiên cho các tay to, kế đến là Tự doanh của công ty chứng khoán. Đối với nhà đầu tư nhỏ, mua được chứng khoán từ những tay môi giới quả thật là qua khe của hẹp, được chăng hay chớ được mã nào hay mã ấy, những mảnh rơi vãi (lô lẻ).
Ai tạo ra cái cửa hẹp ấy, và tạo ra để làm gì để đến hôm nay. Những ngày thị trường xu hướng giảm, số điểm mất không nhiều, không vượt quá 5% nhưng lại ít cơ hội để nhà đầu tư bán tháo. Tình trạng khổ đau này dân buôn chứng gọi là bị kẹp, tức là muốn bán rẻ hơn biên độ cũng không được, phải chờ cho nó rẻ hơn rồi không biết có bán được không. Và thị trường đi xuống từng bước một chắc chắn như khi nó đi lên.
Trong tâm lý người xứ ta, một quán ăn tốt không phải vì có món ăn ngon hay vì phục vụ chu đáo mà bởi vì nó đông khách (có thể không chính xác nhưng là một quan niệm phổ biến). Bệnh viện tốt phải là bệnh viện bác sĩ làm không hết việc, 2-3 bệnh nhân nằm chung một giường (cũng không hẳn đúng nhưng là một sự thật). Thị trường chứng khoán không nằm ngoài quy luật ấy, và nó được các công ty chứng khoán triệt để tận dụng và lợi dụng.
Công ty chứng khoán lấy doanh thu môi giới làm phương tiện và hoa hồng môi giới làm mục tiêu, còn chức năng được gọi là tự doanh là phụ. Tự doanh có nhiệm vụ thu tiền thù lao bằng chứng khoán (không phải tiền mặt) từ những doanh nghiệp mà công ty chứng khoán tư vấn; cân đối cung - cầu trên sàn giao dịch; mua bán những lô lẻ đáp ứng nhu cầu nhỏ nhất của nhà đầu tư. Trên thực tế, tự doanh lại là "nhà đầu tư" trên cả thực thụ, có quyền ưu tiên (vì là người nhà), không cần tiền mặt (vì dùng vốn của công ty). Mảng tự doanh này đem lại tỷ trọng đáng kể trong tổng lợi nhuận của công ty chứng khoán.
Thời chứng khoán lên hương cũng là thời mà thị giá chứng khoán của những công ty chứng khoán lên như diều, những broker qua đào tạo vội được các giới khác ngưỡng mộ. Lợi thế tự doanh của công ty chứng khoán nó có nguyên nhân và kết quả từ những quy định biên độ, quy định T+4 và quy định chống hedge.
Muốn thị trường chứng khoán khởi sắc trở lại, cần loại bỏ những hạn chế về biên độ, không cần sáng tạo mà chỉ cần làm những gì như thông lệ quốc tế như là bán trước - mua sau (nghĩa là T-), mua bán kỳ hạn, magin (đòn bẩy - cái này đã ngầm cho phép). Tức là trả lại cho thị trường những gì thuộc về thị trường, mời những công ty chứng khoán có danh phận trên thế giới vào làm công tác môi giới.
TTCK Việt Nam 11 năm tuổi, mà không lớn. Với những quy định cứng nhắc như là biên độ, T+4, cấm hedge nhằm tích lũy doanh thu cũng như lợi nhuận cho các công ty chứng khoán trong buổi đầu thị trường non trẻ. Sau một thời gian ngắn được UBCKNN nâng đỡ, các công ty chứng khoán, với con chim đầu đàn là Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) đã mau chóng tích lũy lợi nhuận thành những con khủng long, tranh mua tranh bán với các nhà đầu tư, chiếm một tỷ trọng lớn trong sức Cầu của thị trường. Những lúc thị trường đi lên, tuần tự như tiến chỉ số thị trường tăng điểm ngày nào cũng như ngày ấy một tỷ lệ nhỏ hơn biên độ 5% một chút xíu. Những khi bảng điện tử rực rỡ một màu xanh, quyền mua lại ưu tiên cho các tay to, kế đến là Tự doanh của công ty chứng khoán. Đối với nhà đầu tư nhỏ, mua được chứng khoán từ những tay môi giới quả thật là qua khe của hẹp, được chăng hay chớ được mã nào hay mã ấy, những mảnh rơi vãi (lô lẻ).
Ai tạo ra cái cửa hẹp ấy, và tạo ra để làm gì để đến hôm nay. Những ngày thị trường xu hướng giảm, số điểm mất không nhiều, không vượt quá 5% nhưng lại ít cơ hội để nhà đầu tư bán tháo. Tình trạng khổ đau này dân buôn chứng gọi là bị kẹp, tức là muốn bán rẻ hơn biên độ cũng không được, phải chờ cho nó rẻ hơn rồi không biết có bán được không. Và thị trường đi xuống từng bước một chắc chắn như khi nó đi lên.
Trong tâm lý người xứ ta, một quán ăn tốt không phải vì có món ăn ngon hay vì phục vụ chu đáo mà bởi vì nó đông khách (có thể không chính xác nhưng là một quan niệm phổ biến). Bệnh viện tốt phải là bệnh viện bác sĩ làm không hết việc, 2-3 bệnh nhân nằm chung một giường (cũng không hẳn đúng nhưng là một sự thật). Thị trường chứng khoán không nằm ngoài quy luật ấy, và nó được các công ty chứng khoán triệt để tận dụng và lợi dụng.
Công ty chứng khoán lấy doanh thu môi giới làm phương tiện và hoa hồng môi giới làm mục tiêu, còn chức năng được gọi là tự doanh là phụ. Tự doanh có nhiệm vụ thu tiền thù lao bằng chứng khoán (không phải tiền mặt) từ những doanh nghiệp mà công ty chứng khoán tư vấn; cân đối cung - cầu trên sàn giao dịch; mua bán những lô lẻ đáp ứng nhu cầu nhỏ nhất của nhà đầu tư. Trên thực tế, tự doanh lại là "nhà đầu tư" trên cả thực thụ, có quyền ưu tiên (vì là người nhà), không cần tiền mặt (vì dùng vốn của công ty). Mảng tự doanh này đem lại tỷ trọng đáng kể trong tổng lợi nhuận của công ty chứng khoán.
Thời chứng khoán lên hương cũng là thời mà thị giá chứng khoán của những công ty chứng khoán lên như diều, những broker qua đào tạo vội được các giới khác ngưỡng mộ. Lợi thế tự doanh của công ty chứng khoán nó có nguyên nhân và kết quả từ những quy định biên độ, quy định T+4 và quy định chống hedge.
Muốn thị trường chứng khoán khởi sắc trở lại, cần loại bỏ những hạn chế về biên độ, không cần sáng tạo mà chỉ cần làm những gì như thông lệ quốc tế như là bán trước - mua sau (nghĩa là T-), mua bán kỳ hạn, magin (đòn bẩy - cái này đã ngầm cho phép). Tức là trả lại cho thị trường những gì thuộc về thị trường, mời những công ty chứng khoán có danh phận trên thế giới vào làm công tác môi giới.
Monday, May 23, 2011
Tiền đi đâu thời lạm phát
Tiền ở đây không phải tiền chung chung như vàng hay đô la, mà là tiền cụ thể - nội tệ. Lạm phát xứ ta, khỏi chứng minh ai cũng biết. Chỉ số CPI năm, tháng 4 vừa rồi là 17.5%. Nguyên nhân lạm phát là do nhà nước phải in tiền để bù phần bội chi, để trả nợ đậy cho những tập đoàn kinh tế nắm quyền chủ đạo.
Trong điều kiện tiền mất giá hàng tháng hàng ngày, không ai muốn giữ tiền mà náu thân vào những thứ tiền được bảo đảm giá trị khác như là vàng hay đô la. Tiền mặt là thứ có tính thanh khoản mạnh nhất nhưng ai cũng muốn tống khứ nó đi. Vậy nó đi đâu khi mà thị trường luôn luôn khan hiếm tiền mặt, ngân hàng phải nâng cao lãi suất huy động vượt trần. Ai là người giữ tiền? Câu trả lời là: chính chúng ta - những nạn nhân của nạn lạm phát.
Chuyện kể cách nay không lâu lắm, khoảng cuối thập niên '70 cho tới '80, thời ấy máy thu truyền hình gọi bằng ti vi (chữ là TV - television) là một tài sản có giá trị đến mức không phải gia đình nào cũng có. Có thể cả một khu phố mới có một chiếc tivi đen trắng mua từ Đông Âu về. Sau 75 nguồn tivi từ miền Nam dồi dào hơn nhưng khác hệ phải điều chỉnh linh kiện đôi chút.
Khi đó tivi là một gia tài, chỉ những gia đình khá giả, nhà rộng, làm nghề có thu nhập cao như buôn bán hoặc lái xe mới mua được. Nhà nào có tivi đến chương trình chiếu phim hay văn nghệ cả xóm già trẻ lớn bé kéo nhau sang xem đông vui như ở đình làng. Đi xem nhờ tivi nhà hàng xóm là một quyền đương nhiên được dư luận thừa nhận, ai cũng có thể đến lót dép ngồi mà không cần xin phép.
Tuy nhiên tivi là một máy điện tử có tuổi thọ nhất định và thường hay hỏng vặt. Sắm được cái tivi tốn một mớ bạc nên chủ nhân phải quan tâm đến tuổi thọ của nó. Có người đi học ở Đông Âu về đưa ra lập luận Nếu một người xem tivi bền tới 10 năm thì 10 người xem tivi chỉ thọ được một năm. Với trình độ nhận thức như hiện nay, ai cũng biết không phải như vậy, tất nhiên tuổi thọ tivi không phụ thuộc vào số người xem nó.
Việc sử dụng tiền trong xã hội cũng giống như xem tivi vậy. Tiền biến thành vốn tức là được ký thác ở ngân hàng, hiệu quả sử dụng của nó sẽ được tăng lên gấp bội, tức là cùng lúc được nhiều doanh nghiệp sử dụng. Một quá trình đơn giản nhất từ nguyên vật liệu đến tiêu dùng trải qua các công đoạn cơ bản sau: Mua vật liệu - Chế tạo sản phẩm - Bán buôn - Bán lẻ - Người tiêu thụ cuối cùng, quá trình trên gồm 5 giao dịch. Nếu không có tín dụng, tức là phải dùng vốn tự có, cả 5 giao dịch trên mỗi giao dịch sẽ phải chuẩn bị một lượng tiền mặt tương đương giá trị sản phẩm, nghĩa là số tiền mặt cần thiết gấp 5 lần giá trị hàng hóa. Mặt khác nếu có tín dụng, ở đây có thể là vay bảo lãnh hoặc trả chậm, số tiền mặt cần thiết là số tiền mà người mua cuối cùng phải trả, chỉ bằng 20% so với giả thiết ban đầu. Trên thực tế, chuỗi vận động của hàng hoá cần phải có sự tham gia của nhiều hơn 5 chủ thể.
Do tác động của yếu tố lãi suất cao, các bạn hàng không cho nhau trả chậm, mà bắt buộc phải tiền trao cháo múc. Nói theo thuật ngữ của dân tài chính là Tiền không chịu biến thành Vốn, cho nên hiểu theo đúng nghĩa là Vốn thì thiếu nhưng Tiền thì quá nhiều (không hề thiếu tiền, mà chỉ là Tiền không thành Tư bản).
Mặt khác, do giá cả hàng hóa tăng, người tiêu thụ phải giữ trong tay một lượng tiền nhiều hơn trước, số lượng tiền cần thiết phải có trong tay nhiều hơn cả số giấy bạc mà nhà nước đã in ra vô tội vạ.
Ngày trước, đi xem nhờ tivi nhà hàng xóm, ai cũng cảm thấy như thế là đủ. Ngày nay, không nhà nào không có tivi nhưng hầu như ai cũng thấy thiếu, sao không đặt tivi ở nhà bếp, thiếu tivi ở nhà tắm.
Trong điều kiện tiền mất giá hàng tháng hàng ngày, không ai muốn giữ tiền mà náu thân vào những thứ tiền được bảo đảm giá trị khác như là vàng hay đô la. Tiền mặt là thứ có tính thanh khoản mạnh nhất nhưng ai cũng muốn tống khứ nó đi. Vậy nó đi đâu khi mà thị trường luôn luôn khan hiếm tiền mặt, ngân hàng phải nâng cao lãi suất huy động vượt trần. Ai là người giữ tiền? Câu trả lời là: chính chúng ta - những nạn nhân của nạn lạm phát.
Chuyện kể cách nay không lâu lắm, khoảng cuối thập niên '70 cho tới '80, thời ấy máy thu truyền hình gọi bằng ti vi (chữ là TV - television) là một tài sản có giá trị đến mức không phải gia đình nào cũng có. Có thể cả một khu phố mới có một chiếc tivi đen trắng mua từ Đông Âu về. Sau 75 nguồn tivi từ miền Nam dồi dào hơn nhưng khác hệ phải điều chỉnh linh kiện đôi chút.
Khi đó tivi là một gia tài, chỉ những gia đình khá giả, nhà rộng, làm nghề có thu nhập cao như buôn bán hoặc lái xe mới mua được. Nhà nào có tivi đến chương trình chiếu phim hay văn nghệ cả xóm già trẻ lớn bé kéo nhau sang xem đông vui như ở đình làng. Đi xem nhờ tivi nhà hàng xóm là một quyền đương nhiên được dư luận thừa nhận, ai cũng có thể đến lót dép ngồi mà không cần xin phép.
Tuy nhiên tivi là một máy điện tử có tuổi thọ nhất định và thường hay hỏng vặt. Sắm được cái tivi tốn một mớ bạc nên chủ nhân phải quan tâm đến tuổi thọ của nó. Có người đi học ở Đông Âu về đưa ra lập luận Nếu một người xem tivi bền tới 10 năm thì 10 người xem tivi chỉ thọ được một năm. Với trình độ nhận thức như hiện nay, ai cũng biết không phải như vậy, tất nhiên tuổi thọ tivi không phụ thuộc vào số người xem nó.
Việc sử dụng tiền trong xã hội cũng giống như xem tivi vậy. Tiền biến thành vốn tức là được ký thác ở ngân hàng, hiệu quả sử dụng của nó sẽ được tăng lên gấp bội, tức là cùng lúc được nhiều doanh nghiệp sử dụng. Một quá trình đơn giản nhất từ nguyên vật liệu đến tiêu dùng trải qua các công đoạn cơ bản sau: Mua vật liệu - Chế tạo sản phẩm - Bán buôn - Bán lẻ - Người tiêu thụ cuối cùng, quá trình trên gồm 5 giao dịch. Nếu không có tín dụng, tức là phải dùng vốn tự có, cả 5 giao dịch trên mỗi giao dịch sẽ phải chuẩn bị một lượng tiền mặt tương đương giá trị sản phẩm, nghĩa là số tiền mặt cần thiết gấp 5 lần giá trị hàng hóa. Mặt khác nếu có tín dụng, ở đây có thể là vay bảo lãnh hoặc trả chậm, số tiền mặt cần thiết là số tiền mà người mua cuối cùng phải trả, chỉ bằng 20% so với giả thiết ban đầu. Trên thực tế, chuỗi vận động của hàng hoá cần phải có sự tham gia của nhiều hơn 5 chủ thể.
Do tác động của yếu tố lãi suất cao, các bạn hàng không cho nhau trả chậm, mà bắt buộc phải tiền trao cháo múc. Nói theo thuật ngữ của dân tài chính là Tiền không chịu biến thành Vốn, cho nên hiểu theo đúng nghĩa là Vốn thì thiếu nhưng Tiền thì quá nhiều (không hề thiếu tiền, mà chỉ là Tiền không thành Tư bản).
Mặt khác, do giá cả hàng hóa tăng, người tiêu thụ phải giữ trong tay một lượng tiền nhiều hơn trước, số lượng tiền cần thiết phải có trong tay nhiều hơn cả số giấy bạc mà nhà nước đã in ra vô tội vạ.
Ngày trước, đi xem nhờ tivi nhà hàng xóm, ai cũng cảm thấy như thế là đủ. Ngày nay, không nhà nào không có tivi nhưng hầu như ai cũng thấy thiếu, sao không đặt tivi ở nhà bếp, thiếu tivi ở nhà tắm.
Saturday, May 21, 2011
Hưởng ứng bầu cử
Ngày mai là ngày bầu cử, Quốc hội hay hội đồng nhân dân, khóa mấy không quan trọng, ai là ứng cử viên cũng không quan trọng, quan trọng là dứt khoát phải nô nức đi bầu.
Luật pháp công nhận công dân VN từ 18 tuổi có quyền (lưu ý chữ quyền) đi bầu cử. Băng rôn cổ động bầu cử giống như động viên nộp thuế đều có chung một khẩu hiệu: Bầu cử là quyền lợi và nghĩa vụ công dân hay câu chữ đại ý như vậy.
Việc đi bỏ phiếu bầu là việc gạch đi một hoặc vài tên người ghi trong phiếu. Thực ra trong danh sách đó - gọi là ứng cử viên - ta bầu ai cũng được hay nói cách khác là ai cũng xứng đáng cả vì hầu hết cử tri không có biết những người này. Các ứng viên này không qua giai đoạn xin chữ ký cử tri, không nộp đơn xin ứng cử mà được mặt trân tổ quốc lựa chọn. Mặt trận có quyền to thế cơ à, tất nhiên là không phải rồi, có những ban bệ hay cá nhân to hơn mặt trận quyết định những việc này. Mặt trận chỉ là người thực hiện việc yết tên các ứng viên.
Nếu bầu ai cũng thế vậy tại sao ta phải đi bầu cho mất thì giờ. Việc cử tri đi bầu không phải thể hiện ý chí hay nguyện vọng của họ mà chỉ thể hiện tinh thần phục tùng đến đâu mà thôi. Cho nên yếu tố quyết định thành công của cuộc bầu cử không phải công bằng hay dân chủ mà là tỷ lệ cử tri tham dự. Và chưa đi bầu cũng biết chắc chắn rằng tỷ lệ cử tri đi bầu chiếm xem như 100% cử tri. Viết 100% để nói lên rằng tỷ lệ cử tri đi bầu còn cao hơn cả hàm lượng vàng trong vàng lá Thụy Sỹ.
Kinh phí cuộc bầu cử kỳ tới được công bố là 700 tỷ đồng cho 91 ngàn khu vực bỏ phiếu và huy động 300 ngàn cán bộ phục vụ công tác bầu cử. Chia bình quân số cán bộ trên khu vực bầu cử là 3.3 người, thực tế số lượng người hiện diện tại phòng phiếu gấp 5 lần số này, nếu tính cả những người có liên quan ít nhất 10 lần con số này. Tốn phí thực tế là con số không công bố nhưng sẽ lớn gấp 3 lần con số này, đó là chi phí tiền lương, chi phí tiền điện và những chi phí khác do doanh nghiệp chi để cổ động bầu cử. Chí phí này chỉ bàn đến chi công mà không tính đến hao phí cá nhân như tiền xăng xe của cử tri đi bầu cử.
Để bảo đảm việc thực hiện tỷ lệ 100%, công tác bầu cử đã trở nên khuôn mẫu. Khi rời phòng phiếu cử tri sẽ được đóng dấu son ĐÃ ĐI BẦU vào thẻ cử tri đánh dấu việc hoàn thành nhiệm vụ, đồng thời là một dấu mark vào bản danh sách cử tri. Đến 11 giờ, tại khu vực bầu cử sẽ soát lại số cử tri chưa bầu và nhất quyết tổ bầu cử không bỏ qua số người này. Điều kiện lý tưởng là khu vực bầu cử công bố: đến 12 giờ trưa 100% cử tri đã đi bầu, thành công tốt đẹp.
Bước thứ nhất, tổ trưởng hoặc phó dân phố sẽ đến nhà cử tri để mời, không nhất thiết phải vào nhà, có thể gióng ở ngoài của hay cổng.
Sau bước thứ nhất, cử tri có tên vẫn chưa đến phòng phiếu, tổ dân phố sẽ có thêm người hỗ trợ, lần này có thể là dân phòng hay hội phụ nữ, đến nhà tận trong nhà để mời. Nếu xác định cử tri không đi được do ốm đau bệnh tật, Tổ sẽ mang hòm phiếu tới tận nhà như những người khuyết tật khác để cử tri tự tay gạch phiếu, tự tay bỏ vào hòm phiếu.
Bước thứ ba dành cho những kẻ cố gắng thực hiện Hiến pháp - thể hiện quyền đi bầu bằng cách cố ý không đi bầu, đó là đoàn công tác bao gồm cán bộ phường xã, công an tổng số khoảng trên dưới 10 người đến nhà cử tri để thuyết phục. Thông thường bước thứ ba này ít khi phải sử dụng đến.
Thực hiện bước thứ ba nghĩa là cử tri này được xếp vào loại ngoan cố và được vinh dự ghi vào sổ, sau này sẽ gặp khó khăn trong hành chính và hộ tịch, nói chung là sẽ khó sống. Tuy nhiên bước thứ tư vẫn được thực hiện, đó là tên cử tri đó vẫn được đánh dấu bầu rồi và tất nhiên là có phiếu bầu bỏ vào hòm.
Cử tri biết việc đi bầu là tốn xăng tốn thời gian nên đã không đối phó mà phó mặc. Họ tiết kiệm thì giờ và tiền xăng bằng cách một người bầu cho cả họ. Tuy nhiên đó là cách thể hiện tiêu cực vì không phản ánh được ý chí và nguyện vọng của mình vào trong lá phiếu. Cách làm tích cực như thế nào, ông bà ta đã thể hiện trong truyện Thừa Giấy Vẽ Voi.
Ghe tàu chìm khơi khơi (1)
Truyện dân gian kể rằng, có hai anh em cọc chèo (hay cột chèo?) tranh luận về tính nổi. Người em học trò nói, con vịt nó nổi vì Đa mao thiểu nhục tắc phù. Người anh phản biện, cái ghe nó không có lông sao lại nổi? Ghe thì nổi, tất nhiên là có ghe chìm. Nó nổi nó chìm do nó có nhiều lông hay vì một nguyên nhân nào khác.
Nước có tính đặc nên phần lớn vật liệu đều nổi dưới nước. Không chỉ cây cầu thép được bọc ny lông chắc chắn sẽ nổi, mà cầu bê tông bọc kín không để nước lọt vào bên trong cũng có thể nổi dưới nước. Cái phao là một đặc trưng của sự nổi, cứ bọc kín lại, khắc nổi. Cơ thể người cũng vậy, nếu không uống nước hoặc không để lọt nước vào phổi thì không thể chìm được.
Đóng ghe dễ lắm, không cần học nhiều, chỉ cần bảo đảm nước không vô, là nổi. Nếu nước vô, gọi là bị phá nước, chỉ cần tát nước ra ngoài kịp với tốc độ nước chảy vô là không chìm. Bọn Tây phương đào tạo ra cái gọi là kỹ sư Tàu thủy, bọn này chỉ có ăn và mỗi việc là tính toán tọa độ trọng tâm của tổng trọng lượng thân tàu + hàng hóa + thủy thủ, rồi so sánh trọng tâm ấy với tọa độ của một cái tâm khác đó là tâm nổi (không biết chữ này có chính xác không, đó là trọng tâm của lực đẩy Archimetre). Nuôi bọn kỹ sư này tốn cơm là phải, vì tọa độ trọng tâm luôn luôn thay đổi và tâm nổi lại thay đổi theo trọng lường tổng được kể ra phía trên.
Kể lể rắc rối vậy chứ thực ra đơn giản sao cho trọng tâm kia trùng phương thẳng đứng với tâm nổi (làm cho ghe đứng thẳng) và luôn luôn nằm phía dưới tâm nổi. Bình thường một vật nổi dưới nước, tự nó đã bảo đảm hai điều kiện trên, nhất là điều kiện thứ hai.
Vật thể trong hình minh họa trên gọi là Trẹt, nó có thân rộng nên rất khó lật trừ khi chất hàng nặng quá cho chìm luôn. Trên thực tế, thân những con đò qua bắc Vàm Cống cũng có hình dạng như trên nhưng được đóng bằng thép và lắp chân vịt cố định.
Câu hỏi đặt ra là không cần tính toán nhiều, tính kháng lật cao nhưng hình dạng này lại không được ứng dụng nhiều trên thực tế. Xin thưa, kháng lật tốt đồng thời cũng kháng việc di chuyển tốt, tức là có sức cản cao. Muốn bơi nhanh phải có thân hình thuôn và mảnh dẻ như thế này.
Được cái này lại mất cái kia, thử kết hợp cả hai thì ra cái này, vừa ít sức cản, chạy nhanh, lại kháng lật tốt.
(Còn nữa, cớ sao ghe ở ta hay lật)
Nước có tính đặc nên phần lớn vật liệu đều nổi dưới nước. Không chỉ cây cầu thép được bọc ny lông chắc chắn sẽ nổi, mà cầu bê tông bọc kín không để nước lọt vào bên trong cũng có thể nổi dưới nước. Cái phao là một đặc trưng của sự nổi, cứ bọc kín lại, khắc nổi. Cơ thể người cũng vậy, nếu không uống nước hoặc không để lọt nước vào phổi thì không thể chìm được.
Đóng ghe dễ lắm, không cần học nhiều, chỉ cần bảo đảm nước không vô, là nổi. Nếu nước vô, gọi là bị phá nước, chỉ cần tát nước ra ngoài kịp với tốc độ nước chảy vô là không chìm. Bọn Tây phương đào tạo ra cái gọi là kỹ sư Tàu thủy, bọn này chỉ có ăn và mỗi việc là tính toán tọa độ trọng tâm của tổng trọng lượng thân tàu + hàng hóa + thủy thủ, rồi so sánh trọng tâm ấy với tọa độ của một cái tâm khác đó là tâm nổi (không biết chữ này có chính xác không, đó là trọng tâm của lực đẩy Archimetre). Nuôi bọn kỹ sư này tốn cơm là phải, vì tọa độ trọng tâm luôn luôn thay đổi và tâm nổi lại thay đổi theo trọng lường tổng được kể ra phía trên.
Kể lể rắc rối vậy chứ thực ra đơn giản sao cho trọng tâm kia trùng phương thẳng đứng với tâm nổi (làm cho ghe đứng thẳng) và luôn luôn nằm phía dưới tâm nổi. Bình thường một vật nổi dưới nước, tự nó đã bảo đảm hai điều kiện trên, nhất là điều kiện thứ hai.
Vật thể trong hình minh họa trên gọi là Trẹt, nó có thân rộng nên rất khó lật trừ khi chất hàng nặng quá cho chìm luôn. Trên thực tế, thân những con đò qua bắc Vàm Cống cũng có hình dạng như trên nhưng được đóng bằng thép và lắp chân vịt cố định.
Câu hỏi đặt ra là không cần tính toán nhiều, tính kháng lật cao nhưng hình dạng này lại không được ứng dụng nhiều trên thực tế. Xin thưa, kháng lật tốt đồng thời cũng kháng việc di chuyển tốt, tức là có sức cản cao. Muốn bơi nhanh phải có thân hình thuôn và mảnh dẻ như thế này.
Được cái này lại mất cái kia, thử kết hợp cả hai thì ra cái này, vừa ít sức cản, chạy nhanh, lại kháng lật tốt.
(Còn nữa, cớ sao ghe ở ta hay lật)
Saturday, May 14, 2011
Máy ATM đem lại lợi ích gì?
ATM là viết tắt của chữ Automated Teller Machine nghĩa là Máy Giao dịch Tự động. Sự ra đời của máy xuất phát từ việc các ngân hàng nghỉ giao dịch vào 2 ngày cuối tuần mà người ta vẫn phải tiêu tiền mà thậm chí nhiều hơn ở vào 2 ngày này. Do đó mà đối với những ai không có nhu cầu giao dịch vào cuối tuần, máy ATM là việc vô tích sự và có thể gây ra phiền toái.
Sẽ có người hỏi lại rằng ngoại trừ giới doanh nhân phần lớn những người làm công ăn lương không có nhu cầu giao dịch với ngân hàng thường xuyên. Thực tế là ở những xứ tư bản thối nát không những máy ATM không bị chết yểu mà ngày càng phát triển. Cở sở lý luận ở đây là mọi người dân trong đó có bà nội trợ không giữ tiền trong túi mà họ ký thác cho ngân hàng, bất cứ khi nào cần thì ra ngân hàng giao dịch với ... máy.
Lại hỏi tiếp, lãi năm vài phân lãi ngày được mấy li mấy lai? Mấy li mấy lai cũng là tiền, đồng hồ điện ở nhà quý vị cũng đếm tiền bằng ly bằng lai đấy chứ, nó có đếm từng đô la đâu. Sự ra đời của máy ATM là kết quả của việc cạnh tranh giữa các ngân hàng nhằm giành khách hàng, nếu không có máy ATM thân chủ sẽ chạy sang ngân hàng khác . Và như mọi khoản đầu tư khác, đầu tư vào máy ATM phải thực sự đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Vậy ngân hàng đầu tư máy ATM là vì lợi ích của ngân hàng chứ không phải vì lợi ích của người ký thác.
Thẻ từ dùng để tương tác với máy ATM có nhiều loại nhưng tựu trung chỉ có 2 loại, một loại ghi Có hay còn gọi là tài khoản tiết kiệm (Saving account), một loại ghi Nợ gọi là thẻ tín dụng (Credit account). Ở ta gọi thẻ ghi Có là thẻ ATM, cách gọi này không hẳn sai nhưng không chính xác, nó không nói lên được chủ thẻ là người ký thác tiền gửi cho ngân hàng, đã có sẵn tiền trong tài khoản, không phải là con nợ của ngân hàng. Máy ATM không khuyến khích rút tiền mặt bằng thẻ tín dụng nên sẽ thu phí với loại thẻ này, và đặc biệt là không thu phí với thẻ tiết kiệm vì đây là đối tượng kinh doanh của ngân hàng và là lý do ra đời của máy ATM. Cho nên từ đây về sau nói đến thẻ tức là chỉ nói đến thẻ Tiết kiệm hay thẻ Ghi Có hay Saving account.
Mỗi ngân hàng có hệ thống máy ATM của riêng họ, ngân hàng A cho phép chủ thẻ của ngân hàng B rút tiền mặt tại máy của A thì sẽ thu phí. Tuy nhiên nếu ngân hàng A và B có sự hợp tác miễn phí lẫn nhau thì tự nhiên só máy của A hoặc của B sẽ là số lượng tổng A và B, điều này làm giảm phí đầu tư mà hiệu quả lại tăng lên. Do đó mà trên thực tế các ngân hàng liên kết với nhau và những máy ATM cho phép rút tiền sẽ không thu phí với thẻ Tiết kiệm với lý do phân tích ở trên.
Tiền công, tiền lương được trả vào Saving account, qua đó cơ quan quản lý nắm được thu nhập của từng cá nhân. Và cũng thông qua thông tin này nắm luôn những khoản phải nộp của doanh nghiệp cho bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế.
Với chủ thẻ, ngoài lợi ích tiện lợi, muốn rút tiền bất kỳ lúc nào máy ATM còn là người giữ giùm. Thí dụ đi một mình nơi vắng vẻ, ta có thể gửi nhờ những món đồ quý vào máy ATM để hôm sau đến ngân hàng nhận lại. Ở máy ATM ngoài màn hình và phím bấm giao dịch còn có một cái cửa có thể bỏ tiền hay tài sản vào trong đó mà không lấy ra được. Người viết chưa từng thấy máy ATM nào ở VN có cái cửa này.
Ở VN, sự có mặt của máy ATM cũng bất ngờ như sự có mặt của điện thoại di động nhưng kém hữu dụng hơn nhiều. Người lãnh tiền thường rút tiền một lần ngay sau khi kế toán công ty báo có. Thực tế là máy ATM chỉ nhộn nhjp vào cuối tháng và thường là quá tải và ... hết tiền. Ở đây lại phát sinh ra cái điều bất tiện của máy ATM đó là máy không giao dịch được. Chủ thẻ chỉ có nhu cầu rút một lần nhưng lại mất nhiều lần ra máy ATM để giao dịch. Với ngân hàng lợi ích thu được từ số dư của chủ thẻ không bù được chi phí vận hành máy. Đến đây sự tồn tại của máy ATM mang màu sắc Việt Nam trở nên khiên cưỡng với cả chủ thẻ lẫn ngân hàng chủ máy.
Và điều gì đến sẽ đến, đó là ngân hàng lần thứ tư đề nghị thu phí giao dịch. Mở ngoặc thêm là tuy chủ thẻ không bị thu phí mỗi lần rút tiền nhưng chủ thẻ vẫn phải đóng niên liễm 50 ngàn đồng mỗi năm, nếu chủ thẻ nào không phải đóng khoản này nghĩa là được ngân hàng khuyến mãi khoản này. Với người lao động, khoản phí rút tiền sẽ là khoản chi vô lý đối với người làm công và sẽ không được chấp nhận, đơn giản là sẽ đòi kế toán trả lương bằng tiền mặt.
Không có lý do để tồn tại, máy ATM ở VN sẽ cáo chung như số phận của buồng điện thoại công cộng.
Sẽ có người hỏi lại rằng ngoại trừ giới doanh nhân phần lớn những người làm công ăn lương không có nhu cầu giao dịch với ngân hàng thường xuyên. Thực tế là ở những xứ tư bản thối nát không những máy ATM không bị chết yểu mà ngày càng phát triển. Cở sở lý luận ở đây là mọi người dân trong đó có bà nội trợ không giữ tiền trong túi mà họ ký thác cho ngân hàng, bất cứ khi nào cần thì ra ngân hàng giao dịch với ... máy.
Lại hỏi tiếp, lãi năm vài phân lãi ngày được mấy li mấy lai? Mấy li mấy lai cũng là tiền, đồng hồ điện ở nhà quý vị cũng đếm tiền bằng ly bằng lai đấy chứ, nó có đếm từng đô la đâu. Sự ra đời của máy ATM là kết quả của việc cạnh tranh giữa các ngân hàng nhằm giành khách hàng, nếu không có máy ATM thân chủ sẽ chạy sang ngân hàng khác . Và như mọi khoản đầu tư khác, đầu tư vào máy ATM phải thực sự đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Vậy ngân hàng đầu tư máy ATM là vì lợi ích của ngân hàng chứ không phải vì lợi ích của người ký thác.
Thẻ từ dùng để tương tác với máy ATM có nhiều loại nhưng tựu trung chỉ có 2 loại, một loại ghi Có hay còn gọi là tài khoản tiết kiệm (Saving account), một loại ghi Nợ gọi là thẻ tín dụng (Credit account). Ở ta gọi thẻ ghi Có là thẻ ATM, cách gọi này không hẳn sai nhưng không chính xác, nó không nói lên được chủ thẻ là người ký thác tiền gửi cho ngân hàng, đã có sẵn tiền trong tài khoản, không phải là con nợ của ngân hàng. Máy ATM không khuyến khích rút tiền mặt bằng thẻ tín dụng nên sẽ thu phí với loại thẻ này, và đặc biệt là không thu phí với thẻ tiết kiệm vì đây là đối tượng kinh doanh của ngân hàng và là lý do ra đời của máy ATM. Cho nên từ đây về sau nói đến thẻ tức là chỉ nói đến thẻ Tiết kiệm hay thẻ Ghi Có hay Saving account.
Mỗi ngân hàng có hệ thống máy ATM của riêng họ, ngân hàng A cho phép chủ thẻ của ngân hàng B rút tiền mặt tại máy của A thì sẽ thu phí. Tuy nhiên nếu ngân hàng A và B có sự hợp tác miễn phí lẫn nhau thì tự nhiên só máy của A hoặc của B sẽ là số lượng tổng A và B, điều này làm giảm phí đầu tư mà hiệu quả lại tăng lên. Do đó mà trên thực tế các ngân hàng liên kết với nhau và những máy ATM cho phép rút tiền sẽ không thu phí với thẻ Tiết kiệm với lý do phân tích ở trên.
Tiền công, tiền lương được trả vào Saving account, qua đó cơ quan quản lý nắm được thu nhập của từng cá nhân. Và cũng thông qua thông tin này nắm luôn những khoản phải nộp của doanh nghiệp cho bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế.
Với chủ thẻ, ngoài lợi ích tiện lợi, muốn rút tiền bất kỳ lúc nào máy ATM còn là người giữ giùm. Thí dụ đi một mình nơi vắng vẻ, ta có thể gửi nhờ những món đồ quý vào máy ATM để hôm sau đến ngân hàng nhận lại. Ở máy ATM ngoài màn hình và phím bấm giao dịch còn có một cái cửa có thể bỏ tiền hay tài sản vào trong đó mà không lấy ra được. Người viết chưa từng thấy máy ATM nào ở VN có cái cửa này.
Ở VN, sự có mặt của máy ATM cũng bất ngờ như sự có mặt của điện thoại di động nhưng kém hữu dụng hơn nhiều. Người lãnh tiền thường rút tiền một lần ngay sau khi kế toán công ty báo có. Thực tế là máy ATM chỉ nhộn nhjp vào cuối tháng và thường là quá tải và ... hết tiền. Ở đây lại phát sinh ra cái điều bất tiện của máy ATM đó là máy không giao dịch được. Chủ thẻ chỉ có nhu cầu rút một lần nhưng lại mất nhiều lần ra máy ATM để giao dịch. Với ngân hàng lợi ích thu được từ số dư của chủ thẻ không bù được chi phí vận hành máy. Đến đây sự tồn tại của máy ATM mang màu sắc Việt Nam trở nên khiên cưỡng với cả chủ thẻ lẫn ngân hàng chủ máy.
Và điều gì đến sẽ đến, đó là ngân hàng lần thứ tư đề nghị thu phí giao dịch. Mở ngoặc thêm là tuy chủ thẻ không bị thu phí mỗi lần rút tiền nhưng chủ thẻ vẫn phải đóng niên liễm 50 ngàn đồng mỗi năm, nếu chủ thẻ nào không phải đóng khoản này nghĩa là được ngân hàng khuyến mãi khoản này. Với người lao động, khoản phí rút tiền sẽ là khoản chi vô lý đối với người làm công và sẽ không được chấp nhận, đơn giản là sẽ đòi kế toán trả lương bằng tiền mặt.
Không có lý do để tồn tại, máy ATM ở VN sẽ cáo chung như số phận của buồng điện thoại công cộng.
Friday, May 6, 2011
Chỉ số CPI, giá cả tăng và thu nhập thực tế
Lạm phát, nghĩa là Nhà nước in tiền vượt quá nhu cầu trao đổi và lưu thông tiền tệ trên thị trường, là một khái niệm rắc rối đòi hỏi một chuyên môn nhất định và phải có một số cơ sở dữ liệu được cung cấp bởi những cơ quan trực thuộc chính phủ. Cho nên phạm vi bài viết này không đề cập đến lạm phát, một khái niệm vĩ mô không thiết thực, là phương tiện mị dân của chính trị gia.
Khái niệm dễ hiểu với mọi người là Chỉ số giá tiêu dùng viết tắt là CPI (Consumer Price Index). CPI được định nghĩa là mức độ tăng giá bình quân gia quyền của một "Rổ" hàng hóa đại diện trong một kỳ thống kê, thông lệ là một năm. Nhiều người đặt câu hỏi xăng tăng giá những 30% (thực tế có thể hơn), mớ rau trái dừa tăng gấp đôi, tô phở tăng gấp rưỡi, sao nhà nước công bố CPI chỉ là con số đẹp 11.75%.
Trong khái niệm CPI bên trong nó có hai nội dung chính nhưng lại rất mập mờ đó là "rổ" hàng hóa và sản lượng của những loại hàng tham gia rổ. Có thể là trong cái "rổ" đó có những món hàng mà cả đời ta chẳng khi nào mua, thí dụ ô tô; hoặc là có những thứ hàng hóa chiếm tỷ trọng cao trong chi tiêu hàng ngày nhưng lại không được tính vào rổ, như là xăng với lý do là giá xăng bên Mỹ giao động nhiều nên họ không tính vào do nó có thể gây nhiễu.
Thông thường người ta tính CPI theo năm, nghĩa là CPI tháng Năm nghĩa là so với tháng Năm năm 2010, còn ở ta CPI theo tháng, CPI tháng Tư nghĩa là so với tháng Ba năm 2011.
Trong kinh tế thị trường, lao động là hàng hóa chứ không phải là cái gì cao quý như đã từng được tuyên truyền, và tất nhiên nó cũng tuân theo qui luật thị trường, nghĩa là lương cũng có tăng, nhưng chậm hơn nhiều so với hàng tiêu dùng.
Trước hết phân loại hàng tiêu dùng, hàng tiêu dùng là hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc, ở và đi lại của con người. Theo mức độ cấp thiết của tiêu dùng mà người ta phân ra hàng nhu yếu phẩm và hàng xa xỉ. Việc phân loại cũng chỉ mang tính tương đối, xăng là nhu yếu phẩm lại được phân thành hàng xa xỉ, kim cương là hàng xa xỉ mà không chịu ngay cả thuế giá trị gia tăng.
Phạm vi bài viết này đề cập tới đối tượng là những người quan tâm đến giả cả, vì nếu không họ có thể hết tiền trước khi đến kỳ lãnh lương, hay nói cách khác là nhóm người trực tiếp làm ra sản phẩm cho xã hội hay nói theo dân dã là nhóm "Ráo mồ hôi ráo tiền".
Những mặt hàng đưa vào rổ hàng hóa để tính CPI gồm 3 nhóm chính:
1. Nhóm thực phẩm: gạo, rau, thịt, cá ...
2. Nhóm hàng công nghiệp điện máy: TV, tủ lạnh, DVD ...
3. Hàng xa xỉ: bài lá, vàng mã, rượu tây ...
Quy luật giá hàng hóa là: những món hàng rẻ tăng nhanh nhất, nhóm hàng thực phẩm tăng nhiều nhất, hàng công nghiệp điện máy có tăng mà tăng ít, chỉ tăng theo giá nhập, hàng nhập cao cấp chỉ phụ thuộc vào giá đô mà thôi.
Hàng hóa nhóm 1 được tiêu thụ nhiều nhất chiếm quá bán khoản thu nhập, là khoản chi hàng tháng. Nhóm 2 ít được mua sắm hơn, tính bằng hàng năm. Nhóm 3 có thể nói là không có nhu cầu mua để dùng. Với giới thu nhập cao thì ngược lại chi tiêu của họ cho hàng xa xỉ chiếm tỷ trọng lớn.
Chỉ số CPI lại tính cho hàng hóa ở cả 3 nhóm, nên những món hàng đắt tiền giá cao giá tăng ít có tác dụng kéo CPI xuống thấp. Do đó chỉ số giá của nhóm hàng nhu yếu phẩm gấp từ 2 đến 3 lần chỉ số CPI tính toán theo cái gọi là "rổ hàng hóa" kể trên. Đối với giới lao động, hàng hóa họ tiêu thụ chủ yếu thuộc nhóm thực phẩm nên họ phải trả giá tăng lên gấp từ 2 đến 3 lần so với CPI. Thông thường cùng thời gian hệ số lương của họ tăng ít hơn so với CPI từ 2 đến 3 lần. Đây là quy luật mà Mác gọi là Quy luật Bần Cùng Hóa giai cấp vô sản.
* Theo biểu đồ ở trên CPI tháng 4 năm 2011 khoảng 17%, nghĩa là thực tế cùng thời gian giá chợ tăng từ 30% đến gấp rưỡi.
Khái niệm dễ hiểu với mọi người là Chỉ số giá tiêu dùng viết tắt là CPI (Consumer Price Index). CPI được định nghĩa là mức độ tăng giá bình quân gia quyền của một "Rổ" hàng hóa đại diện trong một kỳ thống kê, thông lệ là một năm. Nhiều người đặt câu hỏi xăng tăng giá những 30% (thực tế có thể hơn), mớ rau trái dừa tăng gấp đôi, tô phở tăng gấp rưỡi, sao nhà nước công bố CPI chỉ là con số đẹp 11.75%.
Trong khái niệm CPI bên trong nó có hai nội dung chính nhưng lại rất mập mờ đó là "rổ" hàng hóa và sản lượng của những loại hàng tham gia rổ. Có thể là trong cái "rổ" đó có những món hàng mà cả đời ta chẳng khi nào mua, thí dụ ô tô; hoặc là có những thứ hàng hóa chiếm tỷ trọng cao trong chi tiêu hàng ngày nhưng lại không được tính vào rổ, như là xăng với lý do là giá xăng bên Mỹ giao động nhiều nên họ không tính vào do nó có thể gây nhiễu.
Thông thường người ta tính CPI theo năm, nghĩa là CPI tháng Năm nghĩa là so với tháng Năm năm 2010, còn ở ta CPI theo tháng, CPI tháng Tư nghĩa là so với tháng Ba năm 2011.
Trong kinh tế thị trường, lao động là hàng hóa chứ không phải là cái gì cao quý như đã từng được tuyên truyền, và tất nhiên nó cũng tuân theo qui luật thị trường, nghĩa là lương cũng có tăng, nhưng chậm hơn nhiều so với hàng tiêu dùng.Trước hết phân loại hàng tiêu dùng, hàng tiêu dùng là hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn nhu cầu ăn, mặc, ở và đi lại của con người. Theo mức độ cấp thiết của tiêu dùng mà người ta phân ra hàng nhu yếu phẩm và hàng xa xỉ. Việc phân loại cũng chỉ mang tính tương đối, xăng là nhu yếu phẩm lại được phân thành hàng xa xỉ, kim cương là hàng xa xỉ mà không chịu ngay cả thuế giá trị gia tăng.
Phạm vi bài viết này đề cập tới đối tượng là những người quan tâm đến giả cả, vì nếu không họ có thể hết tiền trước khi đến kỳ lãnh lương, hay nói cách khác là nhóm người trực tiếp làm ra sản phẩm cho xã hội hay nói theo dân dã là nhóm "Ráo mồ hôi ráo tiền".
Những mặt hàng đưa vào rổ hàng hóa để tính CPI gồm 3 nhóm chính:
1. Nhóm thực phẩm: gạo, rau, thịt, cá ...
2. Nhóm hàng công nghiệp điện máy: TV, tủ lạnh, DVD ...
3. Hàng xa xỉ: bài lá, vàng mã, rượu tây ...
Quy luật giá hàng hóa là: những món hàng rẻ tăng nhanh nhất, nhóm hàng thực phẩm tăng nhiều nhất, hàng công nghiệp điện máy có tăng mà tăng ít, chỉ tăng theo giá nhập, hàng nhập cao cấp chỉ phụ thuộc vào giá đô mà thôi.
Hàng hóa nhóm 1 được tiêu thụ nhiều nhất chiếm quá bán khoản thu nhập, là khoản chi hàng tháng. Nhóm 2 ít được mua sắm hơn, tính bằng hàng năm. Nhóm 3 có thể nói là không có nhu cầu mua để dùng. Với giới thu nhập cao thì ngược lại chi tiêu của họ cho hàng xa xỉ chiếm tỷ trọng lớn.
Chỉ số CPI lại tính cho hàng hóa ở cả 3 nhóm, nên những món hàng đắt tiền giá cao giá tăng ít có tác dụng kéo CPI xuống thấp. Do đó chỉ số giá của nhóm hàng nhu yếu phẩm gấp từ 2 đến 3 lần chỉ số CPI tính toán theo cái gọi là "rổ hàng hóa" kể trên. Đối với giới lao động, hàng hóa họ tiêu thụ chủ yếu thuộc nhóm thực phẩm nên họ phải trả giá tăng lên gấp từ 2 đến 3 lần so với CPI. Thông thường cùng thời gian hệ số lương của họ tăng ít hơn so với CPI từ 2 đến 3 lần. Đây là quy luật mà Mác gọi là Quy luật Bần Cùng Hóa giai cấp vô sản.
* Theo biểu đồ ở trên CPI tháng 4 năm 2011 khoảng 17%, nghĩa là thực tế cùng thời gian giá chợ tăng từ 30% đến gấp rưỡi.
Thursday, May 5, 2011
Chốn nghỉ mát Abbottabad (Pakistan)
Thủ lãnh al Qaida Osama bin Laden bị hạ sát vào ngày 1/5/2011 vừa rồi tại nơi ẩn náu nhiều năm là ngôi nhà riêng ở Abbottabad, một thành phố có khí hậu ôn đới phía Đông Bắc xứ Tây Hồi.
Abbottabad được Đại tá James Abbot phát hiện năm 1953, một khu rừng có khí hậu ôn đới giữa xứ sa mạc Ấn. Nơi này về sau được đặt theo tên ông được dùng làm nơi nghỉ dưỡng cho sĩ quan mẫu quốc và thuộc địa giữa xứ sở Ấn độ nóng nực. Cần nhắc lại là Pakistan thuộc Ấn độ và đã được người Anh chia ra theo khu vực tôn giáo trước khi trao trả độc lập cho xứ này.
Trên độ cao 1,260m nhiệt độ không quá cao mà không quá thấp tập trung trong khoảng 12 đến dưới 30 độ C. Do có khí hậu mát mẻ nên ngoài chức năng làm nơi nghỉ mát giữa mùa hè, Abbottabad còn là nơi huấn luyện binh lý tưởng.
Ở nước ta cũng có vùng đất tương tự như vậy, Đà Lạt được bác sĩ Alexandre Yersin phát hiện năm 1890. Ông đề nghị thành lập thành phố phục vụ nhu cầu nghỉ mát cho xứ Nam kỳ và đã được Thống đốc Paul Doumer chấp thuận. Kiến trúc sư Ernest Hébrard được giao việc thiết kế tổng thể đô thị.
Thành phố Đà Lạt là những ngôi biệt thự kiểu Thụy Sĩ lấp ló trên những sườn đồi thông ở độ cao 1,500m. Sân golf sớm nhất Đông Dương và có thể nói cả Á châu được xây dựng ở đây. Võ bị Quốc gia được thành lập năm 1950
Abbottabad được Đại tá James Abbot phát hiện năm 1953, một khu rừng có khí hậu ôn đới giữa xứ sa mạc Ấn. Nơi này về sau được đặt theo tên ông được dùng làm nơi nghỉ dưỡng cho sĩ quan mẫu quốc và thuộc địa giữa xứ sở Ấn độ nóng nực. Cần nhắc lại là Pakistan thuộc Ấn độ và đã được người Anh chia ra theo khu vực tôn giáo trước khi trao trả độc lập cho xứ này.
Trên độ cao 1,260m nhiệt độ không quá cao mà không quá thấp tập trung trong khoảng 12 đến dưới 30 độ C. Do có khí hậu mát mẻ nên ngoài chức năng làm nơi nghỉ mát giữa mùa hè, Abbottabad còn là nơi huấn luyện binh lý tưởng.
Ở nước ta cũng có vùng đất tương tự như vậy, Đà Lạt được bác sĩ Alexandre Yersin phát hiện năm 1890. Ông đề nghị thành lập thành phố phục vụ nhu cầu nghỉ mát cho xứ Nam kỳ và đã được Thống đốc Paul Doumer chấp thuận. Kiến trúc sư Ernest Hébrard được giao việc thiết kế tổng thể đô thị.
Thành phố Đà Lạt là những ngôi biệt thự kiểu Thụy Sĩ lấp ló trên những sườn đồi thông ở độ cao 1,500m. Sân golf sớm nhất Đông Dương và có thể nói cả Á châu được xây dựng ở đây. Võ bị Quốc gia được thành lập năm 1950
Subscribe to:
Posts (Atom)





