Kinh tộc ta vốn xuất thân miền biển, di cư bằng Tàu, quen sống nơi thấp, không quen chỗ cao, tụ tập nhau về sống ở miệt đồng bằng châu thổ. Đặc điểm vùng châu thổ là mùa lũ ngập trắng, mùa cạn chỗ ngập nhiều hơn chỗ khô. Hà Nội ngày nay vốn là một nơi có địa hình như thế.
Đất Hà Nội vốn là một thành nhỏ, được Tiết Độ Sứ Cao Biền hoàn thiện như một kinh đô (thời Bắc Thuộc chức vụ Tiết độ sứ đúng đầu cõi An Nam, nên phủ Sứ giống như kinh thành vậy). Thời Ngô Vương đóng ở Cổ Loa, thời Đinh - Lê kinh đô ở Hoa Lư. Khi Lý Công Uẩn đoạt ngôi nhà Lê mới dời đô về trở lại Đại La và đổi tên thành Thăng Long.Thời phong kiến người ta đắp nền bằng cách lấy đât chỗ thấp để đắp lên những chỗ cao để tạo nên Hoàng Thành và vùng lân cận dịch vụ cho nó. Cho đến khi thực dân Tây sang xâm lược vào nửa cuối thế kỷ 19 và áp đặt chế độ bảo hộ, Hà Nội chỉ là khu Hoàng Thành và phụ cận tức khu phố cổ hiện nay, dân số không quá 100,000 người (Một trăm ngàn). Ngoài những vùng đầm thấp ở xa Hoàng Thành, ngay trong Hoàng Thành và vùng phụ cận, diện tích ao hồ chiếm phân nửa tổng diện tích. Và đây là phương án xử lý thoát nước bền vững mà ta sẽ bàn đến nó vào một dịp khác.
Do mong muốn biến Hà Nội thành trung tâm chính trị, trung tâm văn hóa, trung tâm kinh tế và nhiều thứ "trung tâm" khác Hà Nội đã phải dùng cát để san lấp các ao hồ, vùng đầm lầy và xóa sổ cả những bãi tha ma để làm nhà và nhà ở. Những khu Mỹ Đình, Hào Nam, Hoàng Cầu ra đời.
Để có lượng diện tích lớn nhất trên một tổng mặt bằng giới hạn, không có cách bố trí nào tốt hơn phân lô nhà phố liền kề. Và với diện tích hữu hạn ở mỗi lô người ta chỉ có thể ... vươn lên trời cao.

Quan niệm trên còn "đứng vững" với những căn nhà phố do việc tuy các căn nhà được thi công riêng rẽ nhưng vẫn dựa vào lẫn nhau và tổng thể mỗi block nhà vẫn là một khối thống nhất có chiều cao không lớn so với chiều rộng trừ những căn ngoài cùng.

