Showing posts with label ngân hàng. Show all posts
Showing posts with label ngân hàng. Show all posts

Saturday, December 10, 2011

Vụ hợp nhất ba ngân hàng, báo chí "trấn an" dân chúng quá mức cần thiết


Tin kinh tế nổi bật trong tuần là 3 ngân hàng sáp nhập hay hợp nhất, cũng chỉ là tin tức bình thường trong một nền kinh tế thị trường. Đây không những không phải là tin xấu mà còn là tin tốt cho khách hàng là người gửi tiền.

Trái với các ngân hàng phá sản, khách hàng gửi tiền kỳ vọng vào khoản tiền mặt còn lại trong quỹ và vào bảo hiểm tiền gửi. Các ngân hàng hợp nhất có nghĩa là chúng vẫn còn tồn tại dưới một cái tên chung, tài khoản người gửi sẽ tiếp tục được duy trì. Tùy theo, khách có thể tiếp tục ký thác tiền gửi cho ngân hàng hưởng lãi hoặc rút vốn khỏi ngân hàng.

Thế mà không hiểu Ban Văn hóa tư tưởng chỉ đạo thế nào mà báo chí đồng loạt viết bài trấn an dân chúng. Nào là Ngân hàng hợp nhất cam kết trả đủ tiền cho khách, hay Quyền lợi người gửi tiền vẫn được bảo đảm; nào là nói thay cho khách hàng như là Khách hàng tin tưởng vào các ngân hàng hợp nhất hay nói thay cho giới chủ ngân hàng SÁP NHẬP, HỢP NHẤT NGÂN HÀNG LÀ XU HƯỚNG TẤT YẾU.

Sự tuyên truyền thái quá này có thể làm người gửi tiền nghi ngờ. Vì những ngân hàng này chắc chắn phải có vấn đề mới cần sáp nhập để nương tựa lẫn nhau. Thay vì tuyên truyền suông, báo chí nên nêu ra cơ sở của sự bền vững như là: như là được Ngân hàng nhà nước hỗ trợ vốn, hay là Ngân hàng hợp nhất được quốc hữu hóa một phần do ngân hàng Đầu tư phát triển BIDV làm đại diện của nhà nước; hay là Các cổ đông chủ chốt bỏ tiền mặt ra mua cổ phiếu để tăng tỷ lệ nắm giữ v.v... tức là những kênh cụ thể rót vốn bằng tiền vào cho ngân hàng hợp nhất.

Friday, May 27, 2011

Ngân hàng đang tiến về phía trước

Năm 2010 đầy khó khăn cho các doanh nghiệp. Riêng các ngân hàng lại lãi to, lợi nhuận trước thuế của các ngân hàng lần lượt là:

VietcomBank 5.5 ngàn tỉ đồng,
VietinBank 4.5 ngàn tỉ đồng,
Ngân hàng ACB 3.1 ngàn tỷ đồng,
Techcombank 3.0 ngàn tỷ đồng,
Sacombank 2.4 ngàn tỉ đồng,
Eximbank 2.4 ngàn tỉ đồng,
NH Quân đội 2.1 ngàn tỉ đồng,
Maritime Bank 1.7 tỉ đồng,
NH Liên Việt trên 800 tỉ đồng,
NH Đại Dương (OceanBank) 691 tỉ đồng,
NH An Bình 638 tỉ đồng,
HD Bank hơn 300 tỉ đồng,
SHB hơn 600 tỉ đồng,
NH Đại Tín 302 tỉ đồng

(Để độc giả dễ hình dung, tạm tính 100 tỷ đồng tương đương 5 triệu đô la Mỹ, 1 tỷ (*) đồng tương đương 50 triệu đô la Mỹ)

Theo các chuyên gia ngành ngân hàng, trong năm 2010 lợi thế của các NH quốc doanh là nắm nhiều giấy tờ có giá. Nhờ loại tài sản nhẹ mà có giá trị cao này ngân hàng thương mại dùng nó thế chấp để vay vốn của NH Nhà nước với giá rẻ, sau đó cho vay lại trên thị trường liên NH theo lãi suất qua đêm thỏa thuận. Một đầu ra trọng điểm trong năm 2010 là Đại lễ 1000 năm Thăng Long, các nhà thầu tự ứng vốn sau đại lễ sẽ được thanh toán từ ngân sách.

Trên đây là những nét phác họa bức tranh xán lạn của ngành ngân hàng VN vào năm ngoái, khi mà lãi suất còn ở mức thấp. Năm nay, với nguồn lực dồi dào được tích lũy từ năm ngoái cộng với lãi suất cao không thể tưởng tượng hiện nay, cùng với cơn khát vốn không dứt của BĐS và chứng khoán, hứa hẹn ngành ngân hàng thu được thành quả vượt bực, góp phần hoàn thành tốt chỉ tiêu tăng trưởng GDP mà chính phủ đề ra.

* Xin đọc lại là 1 ngàn tỷ đồng (lỗi do tớ đánh máy)

Monday, March 14, 2011

Ngân hàng đối mặt với hỗn loạn(?)

Năm 2010 trong sóng gió của kinh tế thế giới, chính phủ VN đã vững vàng chèo chống con thuyền kinh tế VN vượt những bãi lầy hoàn thành chỉ tiêu tăng trưởng đạt tỷ lệ 8.5%. Trong các ngành kinh tế chủ đạo của đất nước, ngành ngân hàng đã thành công rực rỡ về thành tích lợi nhuận và cả về mục tiêu kinh tế - xã hội. Thế mà bọn tư bản thối nát lại chỉ ra rằng ngân hàng là khâu yếu nhất trong hệ thống kinh tế VN. Dưới đây là bài viết đăng trên Reuters.

Ngày 14 tháng 3 năm 2011 - Lạm phát tăng, nếu không được quản lý đúng cách, có thể làm cho các ngân hàng trượt dốc không phanh. Áp lực lạm phát gần đây kết hợp với nhiều năm tín dụng tăng trưởng nóng, chi phí đi vay cao đang đe dọa phẩm chất tín dụng ngành ngân hàng. Mặc dù các ngân hàng đã kháng cự được với cuộc khủng hoảng kinh tế hiện đại, S&P cho rằng sự kết hợp cả 3 yếu tố trên có thể dẫn đến tổn thất tài sản nếu không được quản lý đúng mức. Báo cáo trước đây đã đề cập đến 3 ngân hàng Vietcombank BIDV và Techcombank có nguy cơ cao rủi ro mất mát tài sản.

Tăng trưởng tín dụng ngân hàng đã làm tăng rủi ro của hệ thống. Chính phủ Việt Nam đã hạ mục tiêu tăng trưởng tín dụng ngân hàng còn 20% vào năm 2011. Theo chúng tôi (S&P) mục tiêu này còn quá cao, ước tính vào khoảng 120% GDP vào thời điểm 31 tháng 12 năm 2010 trong kết quả tăng trưởng tín dụng 28% năm 2010 so với mục tiêu 25% chính phủ đề ra. (Theo tính toán của chúng tôi, tín dụng thực sự của VN khiêm tốn là 180% gấp rưỡi so với "số đẹp" của S&P. Tổng tín dụng trong hệ thống là 3,680 ngàn tỷ đồng, riêng vốn để xây nhà mỗi năm cần 20 tỷ đô). VN trong những năm qua đã có nhiều năm tăng trưởng tín dụng cao đặc biệt là năm 2007 và 2009 bao gồm cả những khoản vay của khách hàng lớn sở hữu quốc doanh như Vinashin.

Lạm phát năm 2010 (thời điểm tháng Giêng 2011) là 12% so với 7.1% năm 2009 do chính sách nới lỏng tiền tệ nửa cuối năm 2010 để hỗ trợ tăng trưởng GDP cộng với giá hàng hóa trên thế giới tăng góp phần tăng lạm phát. Nếu lạm phát vẫn còn cao, tăng chi phí sẽ cản trở khả năng trả nợ của khách vay. Mặt khác các biện pháp quá hăng hái (siết chặt dự trữ) của chính phủ trong việc giải quyết lạm phát có tác động gây bất ổn và làm xói mòn lòng tin vào hệ thống ngân hàng, như trong năm 2008 lạm phát lên đến 28%.

Chi phí đi vay ở Việt Nam đã tăng mạnh. Đồng Việt Nam (VND) lãi suất cho vay đã tăng đến 18% cho một khoản vay 12 tháng so với 12% một năm trước đây (thực tế còn cao hơn 18%). Ngược lại, lãi suất cho vay bằng đô la lại chỉ ở mức 6%. Phân lời thấp này đã khiến nhiều doanh nghiệp vay bằng đô la. Như vậy khách hàng vay, đặc biệt là những người tạo ra doanh thu chủ yếu bằng tiền đồng, tăng rủi ro tỷ giá. Lạm phát cao ở Việt Nam trong những năm qua cũng đã làm suy yếu lòng tin vào tiền đồng. Kết quả là, dân chúng tìm nơi trú ẩn an toàn hơn ở vàng và đô la. Ngân hàng nhà nước phá giá tiền đồng 8,5% trong tháng 2 năm 2011 tiếp tục gây ra áp lực lạm phát nhiên liệu. (S&P hẳn khách sáo trong chuyện này, người dân phải móc thêm tiền đổ xăng còn chính phủ thêm lợi tức từ xuất khẩu dầu hỏa)

(phần còn lại chỉ là S&P lên mặt dạy đời về hoàn thiện quản lý)

Wednesday, December 8, 2010

Người ta mua vàng khi nào

Người ta mua vàng khi xuất hiện một trong 4 điều kiện sau hoặc hỗn hợp các điều kiện đó. Mọt trong 4 điều kiện đó là:
1. Chiến tranh
2. Khủng hoảng kinh tế
3. Khả năng có nhiều ngân hàng sẽ phá sản
4. Lãi suất ký thác thấp hơn suất lạm phát


Theo tiết lộ của hội đồng vàng thế giới, số vàng mà VN nhập trong 10 năm gần đây sau khi trừ số xuât là vào koảng 1000 tấn. Điều kiện trên có liên quan gì đến lãi suất huy động của các ngân hàng thi nhau tăng trong thời gian gần đây.

Dân ta bây chừ giàu lắm, tài sản của họ là nhà đất, vàng ký, chứng khoán và đô la. Tiền đồng chỉ là phương tiện trung gian trao đổi như một phần trong toàn bộ chức năng của nó. Và hầu như không ai bảo ai cùng giống nhau ở một điểm là giữ của bằng mọi thứ trừ tiền đồng.

Chứng khoán thì được xem là đến đáy nên không ai muốn bán thêm. Vàng có vẻ như chưa hết xu hướng lên. Nhà đất có bao giờ xuống giá trừ khi có sắc thuế đánh vào sở hữu đất nhà, mà điều ấy chưa xảy ra và sẽ mãi không xảy ra. Cho nên của trong dân thì nhiều nhưng không ai muốn bán, vì e rằng sau một thời gian số tiền cộng với lãi không mua lại được số tài sản đã bán.